Hiển thị các bài đăng có nhãn Động. Hiển thị tất cả bài đăng

Khám phá Thẩm Púa

(TTO) - Là nơi đặt huy đầu tiên của chiến dịch Điện Biên Phủ và được người dân bản địa gọi là hang "ông Giáp", nhưng hang Thẩm Púa còn ít được nhiều người biết đến khi đến thăm địa danh "lừng lấy năm châu, chấn động địa cầu" này.

Sau hơn 400km theo đường QL6 từ Hà Nội và vượt qua con đèo Pha Đin - một trong tứ đại đỉnh đèo của Việt Nam - chúng tôi đặt chân tới Điện Biên, vùng đất một thời oanh liệt của cha ông với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng danh. Theo lịch trình, cả nhóm cũng thăm thú các địa danh lừng lẫy Đồi A1, Hầm tướng Đờ-Cát, cánh đồng Mường Thanh...

< Những quả đồi mướt xanh nếp nương.

Nhưng cứ thấy như đã bỏ quên điều gì đó.

Mày mò trên những dòng lịch sử về chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi bắt gặp một chi tiết mà có lẽ ít ai để ý: “Thẩm Púa(tên gọi khác là Thẩm Báng) - nơi người dân đại phương đã phát hiện một số loại rìu, chày nghiền thức ăn bằng đá, một số mẩu xương động vật hóa thạch, cũng chính là nơi đặt sở chỉ huy đầu tiên của chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại đây ngày 14-1-1954 đã diễn ra hội nghị quan trọng quyết định cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ”.

< Núi rừng trùng điệp bên những thung lũng xanh màu lúa nhìn từ cửa hang Thẩm Púa.

Tìm hiểu thêm mới biết Thẩm Púa là một hang nằm dưới chân núi đá vôi Pú Hồng Cáy, thuộc địa phận Bản Pó, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, Điện Biên. Để đi được vào đây, từ km15 Tuần Giáo, phải hỏi thăm nhiều lần và rất khó khăn mới tìm được đường để đi vào hang sau vài lần lạc đường.

Đường đi vô cùng nhỏ và hẹp, một bên là sườn dốc, nhiều đoạn đất sạt lở khá nguy hiểm nhưng cũng vô cùng đẹp với những quả đồi mướt màu xanh của nếp nương.

< Khung cảnh bên ngoài nhìn qua cửa hang.

Sau một hành trình dài vất vả, cuối cùng mọi người cũng đã thấy cửa hang. Hiện ra trước mắt mọi người là một vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ nhưng còn đầy hoang sơ. Ở phía xa ngay trên đỉnh hang xuất hiện những vệt mây đâm thẳng lên trời thật khỏe khắn tựa như thể hiện tinh thần, ý chí bất khuất của con người nơi đây.

Băng qua nương ngô, gặp các thiếu nữ người dân tộc đang chăm chỉ làm rẫy chào khách bằng những nụ cười trìu mến. Các cô hỏi phải nhóm "đi hang “ông Giáp” không?". Qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi với các sơn nữ, chúng tôi mới biết người dân nơi đây vẫn gọi hang Thẩm Púa là hang "ông Giáp" - Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh hùng dân tộc vừa mới ra đi về cõi vĩnh hằng ở tuổi 103.

< Một phiến đã có hình miệng rắn trong hang.

Với họ, qua lời kể của những cụ già trong bản, Đại tướng là một con người vô cùng vĩ đại, và tên hang "ông Giáp" vì thế cũng được người dân nơi đây đặt như một cách để tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc đối với người anh hùng của dân tộc.

Người dân Bản Pó cho biết thi thoảng mới có người vào hang, đoàn gần đây nhất là vào dịp sau tết, còn chủ yếu là người dân địa phương vào để bẫy chim.

Tiếp tục men theo các bậc đá được xây dựng từ thời chiến, mọi người khá vất vả mới leo được vào hang do đường đi đã bị cây cối che khuất. Nhưng không phụ lòng mong đợi của khách phương xa, ngay từ cửa hang đã bắt gặp những bông hoa rừng đẹp rạng rỡ chào đón.

< Một giếng nước sâu trong lòng hang.

Từ cửa hang phóng tầm mắt nhìn ra xung quanh là những mảng màu thân quen của vùng núi phía Bắc. Núi rừng hùng vĩ trùng trùng điệp điệp trải dài ngút mắt, phía dưới là những thung lũng xanh mát màu lúa mới, nắng vàng ươm trên những cánh đồng...

Hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn khá nguyên vẹn, lòng hang rộng, nhiều nơi cao gần 10m. Càng vào sâu bên trong càng gặp nhiều phiến đá to, phẳng như mặt bàn phủ đầy rêu phong.

< Những mảng rêu phong phủ đầy trên vách đá.

Tiếp tục đi, hiện lên trước mắt mọi người là những vách đá, trần đá, măng đá, nhũ đá có hình thù những con rắn, rồng phượng tuyệt đẹp...

Vào sâu hơn, bên cạnh lòng hang, còn có một bàn thờ không rõ thờ ai có vẻ không được trông nom từ lâu. Ánh sáng lúc này cũng đã mờ dần và bắt đầu khó nhìn thấy cảnh vật xung quanh.

Do không chuẩn bị kỹ càng từ trước vì thiếu thông tin nên sau khi đi cố thêm một chút vào trong, chúng tôi không dám mạo hiểm đi tiếp và đành kết thúc hành trình khám phá hang trong sự tiếc nuối. Nhưng đường về như càng gần hơn với niềm vui trào dâng khi được khám phá một di tích đặc biệt nơi mảnh đất Điện Biên hào hùng.

Thẩm Púa, hi vọng một ngày nào đó địa danh này sẽ không còn bị lãng quên...
Xem thêm >

Theo Nguyễn Đức Cảnh (Du lịch Tuổi Trẻ)
(TTO) - Là nơi đặt huy đầu tiên của chiến dịch Điện Biên Phủ và được người dân bản địa gọi là hang "ông Giáp", nhưng hang Thẩm Púa còn ít được nhiều người biết đến khi đến thăm địa danh "lừng lấy năm châu, chấn động địa cầu" này.

Sau hơn 400km theo đường QL6 từ Hà Nội và vượt qua con đèo Pha Đin - một trong tứ đại đỉnh đèo của Việt Nam - chúng tôi đặt chân tới Điện Biên, vùng đất một thời oanh liệt của cha ông với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng danh. Theo lịch trình, cả nhóm cũng thăm thú các địa danh lừng lẫy Đồi A1, Hầm tướng Đờ-Cát, cánh đồng Mường Thanh...

< Những quả đồi mướt xanh nếp nương.

Nhưng cứ thấy như đã bỏ quên điều gì đó.

Mày mò trên những dòng lịch sử về chiến dịch Điện Biên Phủ, chúng tôi bắt gặp một chi tiết mà có lẽ ít ai để ý: “Thẩm Púa(tên gọi khác là Thẩm Báng) - nơi người dân đại phương đã phát hiện một số loại rìu, chày nghiền thức ăn bằng đá, một số mẩu xương động vật hóa thạch, cũng chính là nơi đặt sở chỉ huy đầu tiên của chiến dịch Điện Biên Phủ. Tại đây ngày 14-1-1954 đã diễn ra hội nghị quan trọng quyết định cho chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ”.

< Núi rừng trùng điệp bên những thung lũng xanh màu lúa nhìn từ cửa hang Thẩm Púa.

Tìm hiểu thêm mới biết Thẩm Púa là một hang nằm dưới chân núi đá vôi Pú Hồng Cáy, thuộc địa phận Bản Pó, xã Chiềng Sinh, huyện Tuần Giáo, Điện Biên. Để đi được vào đây, từ km15 Tuần Giáo, phải hỏi thăm nhiều lần và rất khó khăn mới tìm được đường để đi vào hang sau vài lần lạc đường.

Đường đi vô cùng nhỏ và hẹp, một bên là sườn dốc, nhiều đoạn đất sạt lở khá nguy hiểm nhưng cũng vô cùng đẹp với những quả đồi mướt màu xanh của nếp nương.

< Khung cảnh bên ngoài nhìn qua cửa hang.

Sau một hành trình dài vất vả, cuối cùng mọi người cũng đã thấy cửa hang. Hiện ra trước mắt mọi người là một vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ nhưng còn đầy hoang sơ. Ở phía xa ngay trên đỉnh hang xuất hiện những vệt mây đâm thẳng lên trời thật khỏe khắn tựa như thể hiện tinh thần, ý chí bất khuất của con người nơi đây.

Băng qua nương ngô, gặp các thiếu nữ người dân tộc đang chăm chỉ làm rẫy chào khách bằng những nụ cười trìu mến. Các cô hỏi phải nhóm "đi hang “ông Giáp” không?". Qua cuộc trò chuyện ngắn ngủi với các sơn nữ, chúng tôi mới biết người dân nơi đây vẫn gọi hang Thẩm Púa là hang "ông Giáp" - Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người anh hùng dân tộc vừa mới ra đi về cõi vĩnh hằng ở tuổi 103.

< Một phiến đã có hình miệng rắn trong hang.

Với họ, qua lời kể của những cụ già trong bản, Đại tướng là một con người vô cùng vĩ đại, và tên hang "ông Giáp" vì thế cũng được người dân nơi đây đặt như một cách để tỏ lòng kính trọng, biết ơn sâu sắc đối với người anh hùng của dân tộc.

Người dân Bản Pó cho biết thi thoảng mới có người vào hang, đoàn gần đây nhất là vào dịp sau tết, còn chủ yếu là người dân địa phương vào để bẫy chim.

Tiếp tục men theo các bậc đá được xây dựng từ thời chiến, mọi người khá vất vả mới leo được vào hang do đường đi đã bị cây cối che khuất. Nhưng không phụ lòng mong đợi của khách phương xa, ngay từ cửa hang đã bắt gặp những bông hoa rừng đẹp rạng rỡ chào đón.

< Một giếng nước sâu trong lòng hang.

Từ cửa hang phóng tầm mắt nhìn ra xung quanh là những mảng màu thân quen của vùng núi phía Bắc. Núi rừng hùng vĩ trùng trùng điệp điệp trải dài ngút mắt, phía dưới là những thung lũng xanh mát màu lúa mới, nắng vàng ươm trên những cánh đồng...

Hang đá có vẻ đẹp tự nhiên và còn khá nguyên vẹn, lòng hang rộng, nhiều nơi cao gần 10m. Càng vào sâu bên trong càng gặp nhiều phiến đá to, phẳng như mặt bàn phủ đầy rêu phong.

< Những mảng rêu phong phủ đầy trên vách đá.

Tiếp tục đi, hiện lên trước mắt mọi người là những vách đá, trần đá, măng đá, nhũ đá có hình thù những con rắn, rồng phượng tuyệt đẹp...

Vào sâu hơn, bên cạnh lòng hang, còn có một bàn thờ không rõ thờ ai có vẻ không được trông nom từ lâu. Ánh sáng lúc này cũng đã mờ dần và bắt đầu khó nhìn thấy cảnh vật xung quanh.

Do không chuẩn bị kỹ càng từ trước vì thiếu thông tin nên sau khi đi cố thêm một chút vào trong, chúng tôi không dám mạo hiểm đi tiếp và đành kết thúc hành trình khám phá hang trong sự tiếc nuối. Nhưng đường về như càng gần hơn với niềm vui trào dâng khi được khám phá một di tích đặc biệt nơi mảnh đất Điện Biên hào hùng.

Thẩm Púa, hi vọng một ngày nào đó địa danh này sẽ không còn bị lãng quên...
Xem thêm >

Theo Nguyễn Đức Cảnh (Du lịch Tuổi Trẻ)

Bí ẩn hang Tố Mộ

(BQB) - Cách đây hơn 4 năm, chúng tôi được anh Đinh Hồng Nhâm ở thôn Quy Hợp 3, xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình dẫn đến xã Tân Hóa để khám phá cụm hang động Tú Làn. Đó là một hệ thống hang gần kề nhau rất đẹp và tráng lệ, thạch nhũ muôn màu muôn vẻ, như: hang Ton, hang Tú Làn, hang Ken, hang Kim và nhiều hang động khác. Riêng tại hang Tố Mộ đang chứa đựng nhiều bí ẩn.

“Vua” Non

Theo những lời kể của các cụ cao niên ở xã Tân Hóa, cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp vào xâm lược nước ta, chúng đã kéo quân về xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa...

Mục đích của Pháp là đóng tại eo Chẹt giữa thôn Cổ Liêm và các thôn Yên Thọ một cái đồn hòng cắt đứt con đường huyết mạch nối huyện Minh Hóa với Tuyên Hóa đi qua đường Cây Khế, đàn áp phong trào cách mạng và cướp bóc dân làng.

Hồi đó, ở làng Cổ Liêm, xã Tân Hóa có người thanh niên cường tráng tên là Cao Non. Cao Non đã mất cha từ khi còn nhỏ, mẹ nuôi anh khôn lớn. Thương mẹ già nghèo khổ, Cao Non đã theo bà con vào rừng lấy mây về bán và thường xuyên ở lại trong rừng. Tối đến, anh ngủ lại bên một con thác và lấy những cây mây khoanh lại thành một “cái ổ” rồi chui vào đó nằm nhằm chống lại cái rét và thú dữ.

Hàng ngày, anh đưa mây ra khỏi rừng bán rồi quay lại giúp dân chuyển mây qua thác. Một hôm, có vị chức sắc trong vùng đi bói thì được thầy phán rằng: trong vùng có một người giỏi đủ đức, đủ tài có thể đứng lên giúp dân chống giặc. Thầy đã chỉ hướng đi, vị trí cụ thể cho các vị chức sắc tìm đến nơi ở của Cao Non. Khi đến nơi, các vị chức sắc đã trân trọng mời anh về giúp dân, giúp nước chống giặc ngoại xâm.

Về đến làng, Cao Non đã tập hợp được một đội quân hàng chục trai tráng khoẻ mạnh. Ban ngày, đội quân này dưới sự chỉ huy của Cao Non ẩn náu trong các hệ thống hang động để tập luyện võ thuật, sản xuất binh khí và bí mật theo dõi tình hình hoạt động của giặc nhằm tìm phương án tác chiến.


< Anh Đinh Hồng Nhâm (bên phải) trong hang Tố Mộ.

Thời gian này, giặc Pháp vẫn chưa xây đồn bốt kiên cố mà dựng lên các trại dã chiến để quân lính tá túc dưới những chân núi đá vôi. Biết giặc Pháp đóng lán dưới chân núi nên đêm đến là Cao Non cùng với đội quân mình xuất hiện trên những ngọn lèn cao dùng cung bắn tên độc và phóng lao tẩm nhựa cây cà boong vào lán trại của lính Pháp. Lán trại bị đốt cháy, binh lính Pháp bị chết và bị thương khá nhiều khiến chúng rất hoang mang, lo sợ. Nhiều lần bị Pháp truy kích, đội quân này đã nhanh chóng ẩn náu và biến mất một cách bí ẩn mà giặc không tài nào hiểu nổi. Nơi đóng quân, ẩn náu của Cao Non ở đâu thực dân Pháp cũng không thể tìm ra được. Có lần, chúng đuổi quân ta đến tận hang Ton rồi mất luôn dấu vết.

Một thời gian sau, mẹ của Cao Non lâm bệnh nặng, ông đã bí mật về thăm mẹ ở thôn Cổ Liêm. Khi gần tới nhà, chưa gặp được mẹ thì ông đã bị bao vây. Một mình ông đã dùng gươm chiến đấu lại cả chục tên lính và cuối cùng đã hy sinh. Dù vậy, hàng đêm quân của Cao Non vẫn tiếp tục xuất hiện trên những lèn cao bắn tên và phóng lao về phía lán trại của giặc Pháp, không cho chúng xây dựng đồn tại đây. Hoảng sợ trước sự tấn công của quân ta, giặc Pháp buộc phải rút khỏi Tân Hóa lên đóng đồn tại vùng Quy Hóa, nay là thị trấn Quy Đạt.


< Một mẫu xương trong hang Tố Mộ.

Cụ Trần Xuân Lạp, 83 tuổi ở thôn 3 Yên Thọ cho biết: “Sự hy sinh của ông Cao Non khiến người dân Tân Hóa nói riêng và vùng Kim Linh nói chung vô cùng thương tiếc. Để tỏ lòng biết ơn công lao của ông, người dân đã tự suy tôn ông là vua và thường gọi là vua “Non”. Đó thực sự là ông vua của lòng dân, do dân tự gọi như thế.

Từ đó, người dân ở đây không dùng từ “Non” trong giao tiếp hàng ngày nữa vì họ cho rằng như thế là “phạm thượng”. Để thay từ “Non”, các chức sắc trong vùng ngồi lại bàn bạc với nhau và thống nhất dùng từ “chợt”. Ví dụ: mít non, măng non thì gọi là mít chợt, măng chợt. Thậm chí, kể cả từ “non trẻ” họ cũng gọi là “chợt trẻ”... Và đến bây giờ, người dân vùng Kim Linh vẫn giữ nguyên cách gọi này.

Giải mã những bí ẩn ở hang Tố Mộ

Cuộc khám phá hang động của anh Đinh Hồng Nhâm bắt đầu cách đây khoảng 40 năm về trước. Ngày đó, anh mới lập gia đình nhưng cuộc sống rất khó khăn. Vì vậy, chàng trai trẻ đã vận động anh em đi làm nghề đánh cá. Trong thời gian làm nghề đánh cá ở đây, anh Nhâm đã phát hiện ra rất nhiều hang động đẹp. Trong đó có hang Ton, hang Tú Làn khô, Tú Làn nước, hang Tố Mộ nước...

Một lần, anh Nhâm đã đánh liều một chuyến khi bơi qua hang Tố Mộ nước rộng chừng 30m, qua một đoạn đường đá tai mèo lô nhô rồi lách qua một cửa hang nhỏ. Qua cửa hang đó, anh phóng đèn vào rồi bỗng giật mình khi thấy hiện ra trước mắt mình là cả một không gian rộng lớn, đầy thạch nhũ. Theo lời kể của anh Nhâm, trước đây trong hang này có hai dãy đá ở hai bên được sắp xếp thẳng hàng. Giữa hai hàng đá có những tảng đá nhiều màu sắc lộng lẫy được kết lại với nhau giống như một ngai vua thường ngồi. Hai bên ngai có 4 cột bằng đá thạch nhũ như được đúc tiện. Hai cột đứng trước cao hơn 1m, hai cột sau thấp thua và đều có mầu mận óng ánh rất đẹp mắt. Phía trước là một bãi cát rất mịn, trên cát có nhiều viên đá có hình dáng như những quả trứng gà, được mài giũa hết sức trơn, bóng giống như ngọc trai, có kích thước lớn nhỏ khác nhau.

Quay lại câu chuyện của ông vua Non và đội quân đánh Pháp cuối thế kỷ XIX, đối chứng với hang động này thì nhiều ý kiến cho rằng: Vua Non đã từng ở đây. Bởi trong những lần đội quân này bị thực dân Pháp truy đuổi chạy đến hang Ton thì mất tích. Từ hang Ton có thể đến hang Tố Mộ khô bằng 2 con đường. Một con đường đi qua hang động Tú Làn rồi bơi qua hang Tố Mộ nước, đi một quãng đường ngắn thì tới.

Cửa hang này rất khó tìm, lại nhỏ và được nhiều thân cây che chắn. Một con đường đến hang Tố Mộ khô nữa là đi từ hang Ton xuống bằng cách đu dây hoặc bắc thang. Bởi hang Ton nằm trên và thông với hang Tố Mộ khô qua một cái hang thẳng đứng, có độ cao khoảng 12m nhưng không thể đi xuống bằng đường bộ. Vậy nên, khi giặc Pháp truy đuổi, đội quân của ông Cao Non đã đu dây để trở về bản doanh nên quân Pháp không thể biết được.

Trở lại với cuộc hành trình của chúng tôi vào hang Tố Mộ năm 2009 cho thấy: Nơi đây đã có dấu hiệu của con người từng sinh sống. Trong hang có rất nhiều gốm sứ, bát đĩa và các vật dụng đã vỡ vụn thành từng mảnh. Ở đó, có rất nhiều bộ xương mà theo anh Nhâm đó là xương người. Bởi địa thế của hang này thì người dân đi làm ăn không bao giờ vào đó để sinh sống, hay chôn người chết cả, muông thú cũng rất khó để tới đây. Ngoài ra, dưới bãi cát mịn trong hang có rất nhiều than củi và một số vật dụng khác của con người.

Giải thích về tên hang Tố Mộ, anh Đinh Hồng Nhâm, anh Đinh Vũ Thường và một số người cao tuổi ở xã Tân Hóa đã cùng chung nhận định: Tên hang động này xuất xứ từ thời ông vua Non. Từ “Mộ” ở đây có thể là mồ mả, liên quan đến những cái chết. Bởi trong hang động này trước đây có rất nhiều xương như đã nói. Còn chữ “Tố” trong tiếng Nguồn có nghĩa là đố. Từ “Tố” có thể được hiểu rằng: Đố ai tìm ra hang động này hay là một sự thách đố của đội quân ông Cao Non đối với thực dân Pháp, nếu vào tới thì nơi đây sẽ biến thành mồ mả của chúng.

Vừa qua, Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh cũng đã phát hiện tại hang Tố Mộ có hai bộ xương người vẫn còn khá nguyên vẹn. Việc phát hiện này cho thấy hai bộ xương hoàn toàn có thể liên quan đến cuộc chiến đấu giữa đội quân ông Cao Non và thực dân Pháp, bổ sung cho cách lý giải về tên hang Tố Mộ của anh Nhâm, anh Thường và những người cao tuổi ở xã Tân Hóa.
Xem thêm >

Theo Xuân Vương (Báo Quảng Bình)


Tú Làn: hang động đẹp tại Quảng Bình
(BQB) - Cách đây hơn 4 năm, chúng tôi được anh Đinh Hồng Nhâm ở thôn Quy Hợp 3, xã Xuân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình dẫn đến xã Tân Hóa để khám phá cụm hang động Tú Làn. Đó là một hệ thống hang gần kề nhau rất đẹp và tráng lệ, thạch nhũ muôn màu muôn vẻ, như: hang Ton, hang Tú Làn, hang Ken, hang Kim và nhiều hang động khác. Riêng tại hang Tố Mộ đang chứa đựng nhiều bí ẩn.

“Vua” Non

Theo những lời kể của các cụ cao niên ở xã Tân Hóa, cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp vào xâm lược nước ta, chúng đã kéo quân về xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa...

Mục đích của Pháp là đóng tại eo Chẹt giữa thôn Cổ Liêm và các thôn Yên Thọ một cái đồn hòng cắt đứt con đường huyết mạch nối huyện Minh Hóa với Tuyên Hóa đi qua đường Cây Khế, đàn áp phong trào cách mạng và cướp bóc dân làng.

Hồi đó, ở làng Cổ Liêm, xã Tân Hóa có người thanh niên cường tráng tên là Cao Non. Cao Non đã mất cha từ khi còn nhỏ, mẹ nuôi anh khôn lớn. Thương mẹ già nghèo khổ, Cao Non đã theo bà con vào rừng lấy mây về bán và thường xuyên ở lại trong rừng. Tối đến, anh ngủ lại bên một con thác và lấy những cây mây khoanh lại thành một “cái ổ” rồi chui vào đó nằm nhằm chống lại cái rét và thú dữ.

Hàng ngày, anh đưa mây ra khỏi rừng bán rồi quay lại giúp dân chuyển mây qua thác. Một hôm, có vị chức sắc trong vùng đi bói thì được thầy phán rằng: trong vùng có một người giỏi đủ đức, đủ tài có thể đứng lên giúp dân chống giặc. Thầy đã chỉ hướng đi, vị trí cụ thể cho các vị chức sắc tìm đến nơi ở của Cao Non. Khi đến nơi, các vị chức sắc đã trân trọng mời anh về giúp dân, giúp nước chống giặc ngoại xâm.

Về đến làng, Cao Non đã tập hợp được một đội quân hàng chục trai tráng khoẻ mạnh. Ban ngày, đội quân này dưới sự chỉ huy của Cao Non ẩn náu trong các hệ thống hang động để tập luyện võ thuật, sản xuất binh khí và bí mật theo dõi tình hình hoạt động của giặc nhằm tìm phương án tác chiến.


< Anh Đinh Hồng Nhâm (bên phải) trong hang Tố Mộ.

Thời gian này, giặc Pháp vẫn chưa xây đồn bốt kiên cố mà dựng lên các trại dã chiến để quân lính tá túc dưới những chân núi đá vôi. Biết giặc Pháp đóng lán dưới chân núi nên đêm đến là Cao Non cùng với đội quân mình xuất hiện trên những ngọn lèn cao dùng cung bắn tên độc và phóng lao tẩm nhựa cây cà boong vào lán trại của lính Pháp. Lán trại bị đốt cháy, binh lính Pháp bị chết và bị thương khá nhiều khiến chúng rất hoang mang, lo sợ. Nhiều lần bị Pháp truy kích, đội quân này đã nhanh chóng ẩn náu và biến mất một cách bí ẩn mà giặc không tài nào hiểu nổi. Nơi đóng quân, ẩn náu của Cao Non ở đâu thực dân Pháp cũng không thể tìm ra được. Có lần, chúng đuổi quân ta đến tận hang Ton rồi mất luôn dấu vết.

Một thời gian sau, mẹ của Cao Non lâm bệnh nặng, ông đã bí mật về thăm mẹ ở thôn Cổ Liêm. Khi gần tới nhà, chưa gặp được mẹ thì ông đã bị bao vây. Một mình ông đã dùng gươm chiến đấu lại cả chục tên lính và cuối cùng đã hy sinh. Dù vậy, hàng đêm quân của Cao Non vẫn tiếp tục xuất hiện trên những lèn cao bắn tên và phóng lao về phía lán trại của giặc Pháp, không cho chúng xây dựng đồn tại đây. Hoảng sợ trước sự tấn công của quân ta, giặc Pháp buộc phải rút khỏi Tân Hóa lên đóng đồn tại vùng Quy Hóa, nay là thị trấn Quy Đạt.


< Một mẫu xương trong hang Tố Mộ.

Cụ Trần Xuân Lạp, 83 tuổi ở thôn 3 Yên Thọ cho biết: “Sự hy sinh của ông Cao Non khiến người dân Tân Hóa nói riêng và vùng Kim Linh nói chung vô cùng thương tiếc. Để tỏ lòng biết ơn công lao của ông, người dân đã tự suy tôn ông là vua và thường gọi là vua “Non”. Đó thực sự là ông vua của lòng dân, do dân tự gọi như thế.

Từ đó, người dân ở đây không dùng từ “Non” trong giao tiếp hàng ngày nữa vì họ cho rằng như thế là “phạm thượng”. Để thay từ “Non”, các chức sắc trong vùng ngồi lại bàn bạc với nhau và thống nhất dùng từ “chợt”. Ví dụ: mít non, măng non thì gọi là mít chợt, măng chợt. Thậm chí, kể cả từ “non trẻ” họ cũng gọi là “chợt trẻ”... Và đến bây giờ, người dân vùng Kim Linh vẫn giữ nguyên cách gọi này.

Giải mã những bí ẩn ở hang Tố Mộ

Cuộc khám phá hang động của anh Đinh Hồng Nhâm bắt đầu cách đây khoảng 40 năm về trước. Ngày đó, anh mới lập gia đình nhưng cuộc sống rất khó khăn. Vì vậy, chàng trai trẻ đã vận động anh em đi làm nghề đánh cá. Trong thời gian làm nghề đánh cá ở đây, anh Nhâm đã phát hiện ra rất nhiều hang động đẹp. Trong đó có hang Ton, hang Tú Làn khô, Tú Làn nước, hang Tố Mộ nước...

Một lần, anh Nhâm đã đánh liều một chuyến khi bơi qua hang Tố Mộ nước rộng chừng 30m, qua một đoạn đường đá tai mèo lô nhô rồi lách qua một cửa hang nhỏ. Qua cửa hang đó, anh phóng đèn vào rồi bỗng giật mình khi thấy hiện ra trước mắt mình là cả một không gian rộng lớn, đầy thạch nhũ. Theo lời kể của anh Nhâm, trước đây trong hang này có hai dãy đá ở hai bên được sắp xếp thẳng hàng. Giữa hai hàng đá có những tảng đá nhiều màu sắc lộng lẫy được kết lại với nhau giống như một ngai vua thường ngồi. Hai bên ngai có 4 cột bằng đá thạch nhũ như được đúc tiện. Hai cột đứng trước cao hơn 1m, hai cột sau thấp thua và đều có mầu mận óng ánh rất đẹp mắt. Phía trước là một bãi cát rất mịn, trên cát có nhiều viên đá có hình dáng như những quả trứng gà, được mài giũa hết sức trơn, bóng giống như ngọc trai, có kích thước lớn nhỏ khác nhau.

Quay lại câu chuyện của ông vua Non và đội quân đánh Pháp cuối thế kỷ XIX, đối chứng với hang động này thì nhiều ý kiến cho rằng: Vua Non đã từng ở đây. Bởi trong những lần đội quân này bị thực dân Pháp truy đuổi chạy đến hang Ton thì mất tích. Từ hang Ton có thể đến hang Tố Mộ khô bằng 2 con đường. Một con đường đi qua hang động Tú Làn rồi bơi qua hang Tố Mộ nước, đi một quãng đường ngắn thì tới.

Cửa hang này rất khó tìm, lại nhỏ và được nhiều thân cây che chắn. Một con đường đến hang Tố Mộ khô nữa là đi từ hang Ton xuống bằng cách đu dây hoặc bắc thang. Bởi hang Ton nằm trên và thông với hang Tố Mộ khô qua một cái hang thẳng đứng, có độ cao khoảng 12m nhưng không thể đi xuống bằng đường bộ. Vậy nên, khi giặc Pháp truy đuổi, đội quân của ông Cao Non đã đu dây để trở về bản doanh nên quân Pháp không thể biết được.

Trở lại với cuộc hành trình của chúng tôi vào hang Tố Mộ năm 2009 cho thấy: Nơi đây đã có dấu hiệu của con người từng sinh sống. Trong hang có rất nhiều gốm sứ, bát đĩa và các vật dụng đã vỡ vụn thành từng mảnh. Ở đó, có rất nhiều bộ xương mà theo anh Nhâm đó là xương người. Bởi địa thế của hang này thì người dân đi làm ăn không bao giờ vào đó để sinh sống, hay chôn người chết cả, muông thú cũng rất khó để tới đây. Ngoài ra, dưới bãi cát mịn trong hang có rất nhiều than củi và một số vật dụng khác của con người.

Giải thích về tên hang Tố Mộ, anh Đinh Hồng Nhâm, anh Đinh Vũ Thường và một số người cao tuổi ở xã Tân Hóa đã cùng chung nhận định: Tên hang động này xuất xứ từ thời ông vua Non. Từ “Mộ” ở đây có thể là mồ mả, liên quan đến những cái chết. Bởi trong hang động này trước đây có rất nhiều xương như đã nói. Còn chữ “Tố” trong tiếng Nguồn có nghĩa là đố. Từ “Tố” có thể được hiểu rằng: Đố ai tìm ra hang động này hay là một sự thách đố của đội quân ông Cao Non đối với thực dân Pháp, nếu vào tới thì nơi đây sẽ biến thành mồ mả của chúng.

Vừa qua, Hiệp hội Hang động Hoàng gia Anh cũng đã phát hiện tại hang Tố Mộ có hai bộ xương người vẫn còn khá nguyên vẹn. Việc phát hiện này cho thấy hai bộ xương hoàn toàn có thể liên quan đến cuộc chiến đấu giữa đội quân ông Cao Non và thực dân Pháp, bổ sung cho cách lý giải về tên hang Tố Mộ của anh Nhâm, anh Thường và những người cao tuổi ở xã Tân Hóa.
Xem thêm >

Theo Xuân Vương (Báo Quảng Bình)


Tú Làn: hang động đẹp tại Quảng Bình

Khám phá chùa Địch Lộng

Du khách thăm chùa Địch Lộng sẽ đi từ Hà Nội, theo đường quốc lộ 1A về phía Nam qua cầu Đoan vĩ (còn gọi là cầu Khuất), rẽ tay phải đi khoảng 1km nữa là đến. Chùa Địch Lộng thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Chùa ở lưng chừng núi Địch Lộng, có độ cao so với chân núi khoảng 80 mét. Hệ thống kiến trúc đình, đền, ở đây được xây dựng dưới chân núi theo thế chữ Tam" trên một khu đất rộng hơn 1ha. với ngôi đình 5 gian mọc sừng sững được gọi là Đình Đá, vì tất cả các cột, tảng, xà đùi, cái bẩy đều bằng đá.

Trước khi lên chùa, du khách vào ngôi đình đá này để tưởng niệm thánh Nguyễn Minh Không và thưởng ngoạn một công trình kiến trúc đình chủ yếu bằng đá. Tám cột đá bằng đá xanh nguyên khối, tròn, to, cao hơn 4m đều được trạm nổi những con rồng lớn đang uốn lượn trong mây để hút nước, cá chép theo nước vượt lên. Có khắc rồng, du khách có cảm giác như được xem một đàn rồng lớn đang bay. Mỗi con rồng quấn quanh cột đều có một dáng vẻ khác nhau rất sống động.

Tám cột quân to, tròn như cột cái khoảng 3m, hai hàng trước sau, mặt tiền đều được trạm khắc nổi các câu đối chữ hán ca ngợi cảnh đẹp nơi đây với những ý tưởng sâu sắc. Tất cả 16 cột đá này đều được đặt trên những tảng đá cổ bồng lớn cao 0,60m. Rất hiếm có ngôi đình nào có toàn bộ phần chính của nhà được làm bằng đá xanh nguyên khối trạm khắc công phu và tỷ mỉ như vậy! ở đây đã thể hiện tài năng trạm khắc đá của các nghệ nhân vùng đất Cố Đô Hoa Lư lịch sử.

Hai bên tả hữu cửa động là 2 tượng Hộ Pháp đối diện nhau như đứng canh cổng chùa, tạo cảm giác tự tin, ấm áp . Vách động bên tay trái du khách ở trên cao 8m, treo 1 quả chuông lớn cao hơn một mét, nặng khoảng một tấn ,đúc ở thời Nguyễn.

Du khách bước sang bên tay phải là đến động thờ Phật. Đây chính là chùa Địch Lộng quay hướng Nam. Trước cửa chùa có các khối đá giống hình voi chầu ,hổ phục ,sư tử chầu như đang canh giữ bảo vệ cửa Phật. Ở đây còn có rất nhiều nhũ đá đẹp lấp lánh như cái dù che, rủ xuống như chuông treo.

Trong chùa có bầy nhiều tượng Phật, các pho tượng phật uy nghiêm, nhân từ do con người tạo dựng hoà nhập với các nhũ đá của thiên nhiên. Tất cả hiện lên linh nghiêm trong ánh đuốc bập bùng và những loé đỏ của hương trầm phảng phất mùi thơm cõi thiền.

Hang Tối nằm ở phía trái, vào hang du khách sẽ thấy ngay khối nhũ đá to, tròn, nhẵn lì mọc từ nền hang nhô lên. Đó là bầu sữa mẹ của tạo hoá, có nhiều nhũ đá từ trên nóc động chẩy xuống trông giống như những cột chống trời. Tại đây, du khách sẽ có cảm giác như lạc vào cõi trùng điệp của đá có đủ mọi hình dạng ngoại mục. Mỗi không gian của vách động, trần động là một bức tranh nghệ thuật, những nét trạm khắc tuyệt vời của thiên nhiên, đạt đến mức tinh xảo mà con người không thể nào làm được.

Đi hết hang Tối là đến hang Sáng, vì ở trên cao cửa hang Sáng thắt hẹp lại, có khoảng lộ thiên, khi có gió thổi mạn vào trong động phát ra âm thanh của đá nghe như tiếng sáo. Vì vậy động mang tên là Địch Lộng (Địch nghĩa là sáo, Lộng nghĩa là gió).

Điều độc đáo ở hang Tối và Hang Sáng là các thạch nhũ, lấy đá gõ vào thì lanh lảnh như tiếng chuông. Đó là những thạch cầm của thiên nhiên. Đặc biệt hơn nữa là những rải nhũ đá trong hang lấp lánh bảy sắc cầu vồng và mầu sắc thay đổi theo ánh sáng mặt trời.

Chùa Địch Lộng hàng năm đều tổ chức lễ hội vào thời gian từ ngày 6 đến 10 tháng giêng Âm lịch, kéo dài đến hết tháng 3.

Theo Tin tức Du Lịch
Du khách thăm chùa Địch Lộng sẽ đi từ Hà Nội, theo đường quốc lộ 1A về phía Nam qua cầu Đoan vĩ (còn gọi là cầu Khuất), rẽ tay phải đi khoảng 1km nữa là đến. Chùa Địch Lộng thuộc xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Chùa ở lưng chừng núi Địch Lộng, có độ cao so với chân núi khoảng 80 mét. Hệ thống kiến trúc đình, đền, ở đây được xây dựng dưới chân núi theo thế chữ Tam" trên một khu đất rộng hơn 1ha. với ngôi đình 5 gian mọc sừng sững được gọi là Đình Đá, vì tất cả các cột, tảng, xà đùi, cái bẩy đều bằng đá.

Trước khi lên chùa, du khách vào ngôi đình đá này để tưởng niệm thánh Nguyễn Minh Không và thưởng ngoạn một công trình kiến trúc đình chủ yếu bằng đá. Tám cột đá bằng đá xanh nguyên khối, tròn, to, cao hơn 4m đều được trạm nổi những con rồng lớn đang uốn lượn trong mây để hút nước, cá chép theo nước vượt lên. Có khắc rồng, du khách có cảm giác như được xem một đàn rồng lớn đang bay. Mỗi con rồng quấn quanh cột đều có một dáng vẻ khác nhau rất sống động.

Tám cột quân to, tròn như cột cái khoảng 3m, hai hàng trước sau, mặt tiền đều được trạm khắc nổi các câu đối chữ hán ca ngợi cảnh đẹp nơi đây với những ý tưởng sâu sắc. Tất cả 16 cột đá này đều được đặt trên những tảng đá cổ bồng lớn cao 0,60m. Rất hiếm có ngôi đình nào có toàn bộ phần chính của nhà được làm bằng đá xanh nguyên khối trạm khắc công phu và tỷ mỉ như vậy! ở đây đã thể hiện tài năng trạm khắc đá của các nghệ nhân vùng đất Cố Đô Hoa Lư lịch sử.

Hai bên tả hữu cửa động là 2 tượng Hộ Pháp đối diện nhau như đứng canh cổng chùa, tạo cảm giác tự tin, ấm áp . Vách động bên tay trái du khách ở trên cao 8m, treo 1 quả chuông lớn cao hơn một mét, nặng khoảng một tấn ,đúc ở thời Nguyễn.

Du khách bước sang bên tay phải là đến động thờ Phật. Đây chính là chùa Địch Lộng quay hướng Nam. Trước cửa chùa có các khối đá giống hình voi chầu ,hổ phục ,sư tử chầu như đang canh giữ bảo vệ cửa Phật. Ở đây còn có rất nhiều nhũ đá đẹp lấp lánh như cái dù che, rủ xuống như chuông treo.

Trong chùa có bầy nhiều tượng Phật, các pho tượng phật uy nghiêm, nhân từ do con người tạo dựng hoà nhập với các nhũ đá của thiên nhiên. Tất cả hiện lên linh nghiêm trong ánh đuốc bập bùng và những loé đỏ của hương trầm phảng phất mùi thơm cõi thiền.

Hang Tối nằm ở phía trái, vào hang du khách sẽ thấy ngay khối nhũ đá to, tròn, nhẵn lì mọc từ nền hang nhô lên. Đó là bầu sữa mẹ của tạo hoá, có nhiều nhũ đá từ trên nóc động chẩy xuống trông giống như những cột chống trời. Tại đây, du khách sẽ có cảm giác như lạc vào cõi trùng điệp của đá có đủ mọi hình dạng ngoại mục. Mỗi không gian của vách động, trần động là một bức tranh nghệ thuật, những nét trạm khắc tuyệt vời của thiên nhiên, đạt đến mức tinh xảo mà con người không thể nào làm được.

Đi hết hang Tối là đến hang Sáng, vì ở trên cao cửa hang Sáng thắt hẹp lại, có khoảng lộ thiên, khi có gió thổi mạn vào trong động phát ra âm thanh của đá nghe như tiếng sáo. Vì vậy động mang tên là Địch Lộng (Địch nghĩa là sáo, Lộng nghĩa là gió).

Điều độc đáo ở hang Tối và Hang Sáng là các thạch nhũ, lấy đá gõ vào thì lanh lảnh như tiếng chuông. Đó là những thạch cầm của thiên nhiên. Đặc biệt hơn nữa là những rải nhũ đá trong hang lấp lánh bảy sắc cầu vồng và mầu sắc thay đổi theo ánh sáng mặt trời.

Chùa Địch Lộng hàng năm đều tổ chức lễ hội vào thời gian từ ngày 6 đến 10 tháng giêng Âm lịch, kéo dài đến hết tháng 3.

Theo Tin tức Du Lịch

Ba động đẹp nhất trời Nam

Được tôn vinh là 3 động đẹp nhất trời Nam, Hương Tích, Bích Động và Địch Lộng còn ấn tượng với du khách nhờ vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc của những ngôi chùa nằm trong và ngoài động.

1. Hương Tích - Nam thiên đệ nhất động

Nói đến danh thắng Chùa Hương, Mỹ Đức, Hà Nội, không ai là không biết đến động Hương Tích vốn được mệnh danh là động đẹp nhất trời Nam, nằm cách trung tâm Hà Nội 70 km về phía Tây Nam. Du khách đến đây không khỏi choáng ngợp khi mở ra trước mắt là khung cảnh thênh thang, hun hút của một hàm rồng lớn. Đó chính là cửa động Hương Tích.

Từ đây, du khách vào động Hương Tích bằng cách đi bộ xuống hơn 100 bậc đá. Bạn sẽ thấy bên trái lối vào là vách núi cao khắc 5 chữ "Nam thiên đệ nhất động", do chúa Trịnh Sâm đặt bút đề vào năm 1770 khi tuần du Sơn Nam. Đi sâu xuống động là vô vàn nhũ đá rủ xuống từ trần nhà và nhô lên từ mặt đất với đủ các hình thù kỳ lạ. Nào là hình lợn mẹ, lợn con, đụn rơm, đụn gạo, nào là hình trái bòng, trái bưởi, cây bạc, cây vàng, nào là núi Cậu, núi Cô, khánh đá, cà sa nhũ Phật...

Trong đó ấn tượng nhất là đụn Gạo. Do nằm ở chính giữa, gần lối cửa vào và khá lớn, nên khi nhìn từ cửa động, hòn thạch nhũ này giống như lưỡi trong miệng rồng, tạo sự thích thú cho du khách. Động còn có "đường lên trời" và "lối xuống âm phủ". Đường lên trời là một sườn đá dốc càng leo càng cao, lối xuống âm phủ là một cái khe đưa xuống hang sâu dưới đất.

Đến đây, bạn sẽ cảm nhận được hơi ẩm mát lành tỏa ra từ lòng động, nhờ những giọt nước tí tách ngày đêm chảy từ nhũ đá như dòng sữa mẹ. Thêm vào đó, khung cảnh thơ mộng của dòng suối Yến dẫn vào từ bến Đục, khiến du khách gần xa không khỏi xao lòng khi đặt chân đến động đẹp nhất trời Nam.

2. Bích Động - Nam thiên đệ nhị động

Nằm trong quần thể du lịch của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Bích Động không chỉ là danh thắng gắn liền với Tam Cốc mà còn được biết đến với danh xưng "Nam thiên đệ nhị động". Bích Động, có nghĩa là "động xanh", được tể tướng Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du đặt tên vào năm 1773.

Bích Động nằm cách bến Tam Cốc 2 km, phía trước là dòng sông Hoàng Long uốn lượn bên sườn núi, thả đầy hoa sen. Vào mùa sen nở, Bích Động ngào ngạt hương sen khi bên kia sông là cánh đồng lúa chín vàng, tạo nên khung cảnh nên thơ như tranh vẽ. Dọc theo chiều dài Bích Động là Xuyên Thủy động như được tạo hóa xếp từng phiến đá lớn thành mái vòm cung.

Lối vào Xuyên thủy động ở phía sau núi, đối diện với đường vào Bích Động. Tại điểm kết thúc hành trình xuyên thủy động, du khách có thể leo núi để tới động và chùa Bích Động. Điểm hấp dẫn của Bích Động chính là sự kết hợp hài hòa của động, núi và chùa.

Chùa Hạ được xây dựng ngay dưới chân núi Bích Động, có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, mái hai tầng, uốn cong, và cột làm bằng đá liền khối. Sau khoảng 80 bậc đá men quanh sườn núi, du khách sẽ đến chùa Trung nằm ở lưng chừng núi, có kiến trúc bán mái phía ngoài. Nằm trên đỉnh cao nhất là chùa Thượng thợ Phật bà Quan Âm. Từ đây, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh xung quanh Bích Động ẩn hiện giữa những cây đại thụ xanh ngút ngàn, rung reo trong gió.

3. Địch Lộng - Nam thiên đệ tam động

Dù ít được biết đến hơn Hương Tích và Bích Động nhưng vẻ đẹp của Địch Lộng, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Hà Nam và Ninh Bình thì không hề thua kém. Sau khi bước qua 105 bậc đá từ chùa Hạ, du khách sẽ đến cửa động đề 6 chữ: "Nham Sơn động, Cổ Am tự". Hai bên cửa động có hai tượng Hộ Pháp và tại mái vòm hang đá cao 8 m treo quả chuông nặng gần một tấn được đúc từ thời nhà Nguyễn.

Động gồm có ba hang nối liền nhau. Trong khi hang ngoài thờ Phật, thì hang Tối, hang Sáng lại giống như một không gian nghệ thuật, hội tụ những tác phẩm chạm khắc tuyệt tác của tạo hóa từ nhũ đá. Không chỉ lấp lánh như cầu vồng, nhũ đá ở đây còn thay đổi màu sắc theo ánh sáng mặt trời, và khi bạn lấy đá gõ vào sẽ nghe lanh lảnh như tiếng chuông.

Do ở vị trí trên cao lại có khoảng lộ thiên, cửa hang thắt hẹp lại, nên mỗi khi có gió thổi mạnh vào trong hang, du khách sẽ nghe thấy âm thanh phát ra như tiếng sáo. Có lẽ vì vậy mà động có tên là Địch Lộng với ý nghĩa "địch" là sáo, "lộng" là gió.

Theo Xã Luận
Được tôn vinh là 3 động đẹp nhất trời Nam, Hương Tích, Bích Động và Địch Lộng còn ấn tượng với du khách nhờ vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc của những ngôi chùa nằm trong và ngoài động.

1. Hương Tích - Nam thiên đệ nhất động

Nói đến danh thắng Chùa Hương, Mỹ Đức, Hà Nội, không ai là không biết đến động Hương Tích vốn được mệnh danh là động đẹp nhất trời Nam, nằm cách trung tâm Hà Nội 70 km về phía Tây Nam. Du khách đến đây không khỏi choáng ngợp khi mở ra trước mắt là khung cảnh thênh thang, hun hút của một hàm rồng lớn. Đó chính là cửa động Hương Tích.

Từ đây, du khách vào động Hương Tích bằng cách đi bộ xuống hơn 100 bậc đá. Bạn sẽ thấy bên trái lối vào là vách núi cao khắc 5 chữ "Nam thiên đệ nhất động", do chúa Trịnh Sâm đặt bút đề vào năm 1770 khi tuần du Sơn Nam. Đi sâu xuống động là vô vàn nhũ đá rủ xuống từ trần nhà và nhô lên từ mặt đất với đủ các hình thù kỳ lạ. Nào là hình lợn mẹ, lợn con, đụn rơm, đụn gạo, nào là hình trái bòng, trái bưởi, cây bạc, cây vàng, nào là núi Cậu, núi Cô, khánh đá, cà sa nhũ Phật...

Trong đó ấn tượng nhất là đụn Gạo. Do nằm ở chính giữa, gần lối cửa vào và khá lớn, nên khi nhìn từ cửa động, hòn thạch nhũ này giống như lưỡi trong miệng rồng, tạo sự thích thú cho du khách. Động còn có "đường lên trời" và "lối xuống âm phủ". Đường lên trời là một sườn đá dốc càng leo càng cao, lối xuống âm phủ là một cái khe đưa xuống hang sâu dưới đất.

Đến đây, bạn sẽ cảm nhận được hơi ẩm mát lành tỏa ra từ lòng động, nhờ những giọt nước tí tách ngày đêm chảy từ nhũ đá như dòng sữa mẹ. Thêm vào đó, khung cảnh thơ mộng của dòng suối Yến dẫn vào từ bến Đục, khiến du khách gần xa không khỏi xao lòng khi đặt chân đến động đẹp nhất trời Nam.

2. Bích Động - Nam thiên đệ nhị động

Nằm trong quần thể du lịch của huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, Bích Động không chỉ là danh thắng gắn liền với Tam Cốc mà còn được biết đến với danh xưng "Nam thiên đệ nhị động". Bích Động, có nghĩa là "động xanh", được tể tướng Nguyễn Nghiễm, thân phụ của đại thi hào Nguyễn Du đặt tên vào năm 1773.

Bích Động nằm cách bến Tam Cốc 2 km, phía trước là dòng sông Hoàng Long uốn lượn bên sườn núi, thả đầy hoa sen. Vào mùa sen nở, Bích Động ngào ngạt hương sen khi bên kia sông là cánh đồng lúa chín vàng, tạo nên khung cảnh nên thơ như tranh vẽ. Dọc theo chiều dài Bích Động là Xuyên Thủy động như được tạo hóa xếp từng phiến đá lớn thành mái vòm cung.

Lối vào Xuyên thủy động ở phía sau núi, đối diện với đường vào Bích Động. Tại điểm kết thúc hành trình xuyên thủy động, du khách có thể leo núi để tới động và chùa Bích Động. Điểm hấp dẫn của Bích Động chính là sự kết hợp hài hòa của động, núi và chùa.

Chùa Hạ được xây dựng ngay dưới chân núi Bích Động, có kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, mái hai tầng, uốn cong, và cột làm bằng đá liền khối. Sau khoảng 80 bậc đá men quanh sườn núi, du khách sẽ đến chùa Trung nằm ở lưng chừng núi, có kiến trúc bán mái phía ngoài. Nằm trên đỉnh cao nhất là chùa Thượng thợ Phật bà Quan Âm. Từ đây, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh xung quanh Bích Động ẩn hiện giữa những cây đại thụ xanh ngút ngàn, rung reo trong gió.

3. Địch Lộng - Nam thiên đệ tam động

Dù ít được biết đến hơn Hương Tích và Bích Động nhưng vẻ đẹp của Địch Lộng, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Hà Nam và Ninh Bình thì không hề thua kém. Sau khi bước qua 105 bậc đá từ chùa Hạ, du khách sẽ đến cửa động đề 6 chữ: "Nham Sơn động, Cổ Am tự". Hai bên cửa động có hai tượng Hộ Pháp và tại mái vòm hang đá cao 8 m treo quả chuông nặng gần một tấn được đúc từ thời nhà Nguyễn.

Động gồm có ba hang nối liền nhau. Trong khi hang ngoài thờ Phật, thì hang Tối, hang Sáng lại giống như một không gian nghệ thuật, hội tụ những tác phẩm chạm khắc tuyệt tác của tạo hóa từ nhũ đá. Không chỉ lấp lánh như cầu vồng, nhũ đá ở đây còn thay đổi màu sắc theo ánh sáng mặt trời, và khi bạn lấy đá gõ vào sẽ nghe lanh lảnh như tiếng chuông.

Do ở vị trí trên cao lại có khoảng lộ thiên, cửa hang thắt hẹp lại, nên mỗi khi có gió thổi mạnh vào trong hang, du khách sẽ nghe thấy âm thanh phát ra như tiếng sáo. Có lẽ vì vậy mà động có tên là Địch Lộng với ý nghĩa "địch" là sáo, "lộng" là gió.

Theo Xã Luận

Kỳ thú Hồ Động Tiên

Hang Hồ Động Tiên là một trong những hang động đẹp nhất trên Vịnh Hạ Long. Do chứa đựng những giá trị đặc biệt về địa chất, địa mạo và lịch sử hình thành Vịnh Hạ Long nên đến nay Hồ Động Tiên chỉ dành cho các lớp học giáo dục môi trường sinh thái (Ecoboat) và các nhà nghiên cứu tới tìm hiểu.

Hồ Động Tiên là hang có một hồ nước không sâu lắm, theo truyền thuyết xưa kia có các nàng tiên xuống tắm nơi đây. Những phiến đá lớn trong đây là nơi nằm ngủ các nàng tiên. Hồ Động Tiên có cấu trúc kiểu hang thềm điển hình, với đáy hang nằm cao hơn mặt biển không nhiều, thậm chí lối vào ở cửa hang còn bị ngập nước, phải tôn cao đường lên mới vào được.

< Nhìn bề ngoài, cửa hang Hồ Động Tiên không có gì khác biệt. Khi triều lên, nước biển dâng ngập 1/3 cửa hang.

Hang Hồ Động tiên chia làm ba ngăn, lối qua các ngăn rất là hẹp chỉ có thể từng người qua một, phía sâu trong rất tối, nên khi vào thăm hang hãy nhớ cầm theo đèn pin, khi có ánh sáng chiếu vào lòng hang, chúng ta sẽ thấy được sự lấp lánh của các nhũ đá trong đó.

< Lối vào bên trong hang có chỗ chỉ vừa một người chui lọt.

Khác với tất cả các hang động khác trong Vịnh Hạ Long, trong hang Hồ Động Tiên còn di tích của nhiều nền hang treo bên vách, có dạng những “gác xép” kéo dài.

< Khác biệt nằm ở bên trong: Trên trần hang, nhũ đá buông xuống, lấp lánh tuyệt đẹp…

Theo các nhà khoa học, đó là những phần mặt nền hang được cấu kết tương đối chắc chắn bằng chất CaCO3 mà phần dưới nền đã bị xói mòn do dòng chảy ngầm xuất hiện trong hang qua hàng ngàn năm.

< “Chén Ngọc” trong ngăn thứ 3 của hang Hồ Động Tiên.

< Bên dưới nền hang, nhiều cột nhũ đá mọc lên.

Cũng theo các nhà khoa học, nếu nghiên cứu chi tiết các mảng sót của nền hang đó có thể tìm hiểu được chi tiết tiến trình dâng, hạ của mực nước biển Hạ Long trong kỷ Đệ Tứ (kéo dài khoảng 2 triệu - 1,6 triệu năm trước). Điều đó có ý nghĩa lớn đối với việc khôi phục lịch sử địa chất của khu vực.

< Nhũ đá tạo thành những ô to nhỏ có vách ngăn như thửa ruộng.

Trong hang hiện có nhiều nhũ đá dạng cột rủ xuống chấm nền hiện tại, là cơ sở để đoán định rằng, phía dưới nền hiện tại còn có một nền hang cổ, và còn có nhiều măng đá mọc lên để đỡ những cột nhũ kể trên. Có điều, phân nửa hang phía dưới hiện vẫn bị trầm tích lấp đầy. Đó là một điều bí ẩn chưa được khám phá.

< Đặc biệt, trong bóng tối dày đặc, không có gió lùa vào vẫn có những con cua, nhện, dế sinh sống. Chúng kiếm ăn, sinh tồn thế nào vẫn là bí ẩn.

Từ ngăn thứ hai của hang Hồ Động Tiên có hai cửa thông ra một hồ nước, xung quanh có núi đá vôi bao bọc.

< Những “gác xép” treo trên vách hang là tư liệu quý về quá trình hình thành hang động trên Vịnh Hạ Long.

Người ta gọi những hồ nước kiểu này là áng. Thực chất đây là một phễu karst có phần đáy bị ngập nước. Đó là một loại môi trường sinh thái đặc biệt, vừa biệt lập vừa lưu thông với biển thông qua hệ thống hang ngầm và khe nứt trong đá vôi. Vì thế, trong các áng thường có hệ sinh vật độc đáo, có thể gồm nhiều loài đặc hữu.

Việc cơ quan quản lý chưa cho phép đưa du khách vào hang như các hang động khác trên Vịnh, đã giúp cho các nhũ đá trong hang giữ được trạng thái tự nhiên.

Các khối thạch nhũ ở đây phô diễn hết vẻ long lanh huyền bí của mình. Hàng triệu tinh thể canxit ánh lên kỳ diệu khi có ánh sáng nhẹ dọi vào. Điều đó ở những hang động đã khai thác như Sửng Sốt, Thiên Cung, Đầu Gỗ không bao giờ còn nữa…

Hang Hồ Động Tiên là một trong những hang động đẹp nhất trên Vịnh Hạ Long. Do chứa đựng những giá trị đặc biệt về địa chất, địa mạo và lịch sử hình thành Vịnh Hạ Long nên đến nay Hồ Động Tiên chỉ dành cho các lớp học giáo dục môi trường sinh thái (Ecoboat) và các nhà nghiên cứu tới tìm hiểu.

Hồ Động Tiên là hang có một hồ nước không sâu lắm, theo truyền thuyết xưa kia có các nàng tiên xuống tắm nơi đây. Những phiến đá lớn trong đây là nơi nằm ngủ các nàng tiên. Hồ Động Tiên có cấu trúc kiểu hang thềm điển hình, với đáy hang nằm cao hơn mặt biển không nhiều, thậm chí lối vào ở cửa hang còn bị ngập nước, phải tôn cao đường lên mới vào được.

< Nhìn bề ngoài, cửa hang Hồ Động Tiên không có gì khác biệt. Khi triều lên, nước biển dâng ngập 1/3 cửa hang.

Hang Hồ Động tiên chia làm ba ngăn, lối qua các ngăn rất là hẹp chỉ có thể từng người qua một, phía sâu trong rất tối, nên khi vào thăm hang hãy nhớ cầm theo đèn pin, khi có ánh sáng chiếu vào lòng hang, chúng ta sẽ thấy được sự lấp lánh của các nhũ đá trong đó.

< Lối vào bên trong hang có chỗ chỉ vừa một người chui lọt.

Khác với tất cả các hang động khác trong Vịnh Hạ Long, trong hang Hồ Động Tiên còn di tích của nhiều nền hang treo bên vách, có dạng những “gác xép” kéo dài.

< Khác biệt nằm ở bên trong: Trên trần hang, nhũ đá buông xuống, lấp lánh tuyệt đẹp…

Theo các nhà khoa học, đó là những phần mặt nền hang được cấu kết tương đối chắc chắn bằng chất CaCO3 mà phần dưới nền đã bị xói mòn do dòng chảy ngầm xuất hiện trong hang qua hàng ngàn năm.

< “Chén Ngọc” trong ngăn thứ 3 của hang Hồ Động Tiên.

< Bên dưới nền hang, nhiều cột nhũ đá mọc lên.

Cũng theo các nhà khoa học, nếu nghiên cứu chi tiết các mảng sót của nền hang đó có thể tìm hiểu được chi tiết tiến trình dâng, hạ của mực nước biển Hạ Long trong kỷ Đệ Tứ (kéo dài khoảng 2 triệu - 1,6 triệu năm trước). Điều đó có ý nghĩa lớn đối với việc khôi phục lịch sử địa chất của khu vực.

< Nhũ đá tạo thành những ô to nhỏ có vách ngăn như thửa ruộng.

Trong hang hiện có nhiều nhũ đá dạng cột rủ xuống chấm nền hiện tại, là cơ sở để đoán định rằng, phía dưới nền hiện tại còn có một nền hang cổ, và còn có nhiều măng đá mọc lên để đỡ những cột nhũ kể trên. Có điều, phân nửa hang phía dưới hiện vẫn bị trầm tích lấp đầy. Đó là một điều bí ẩn chưa được khám phá.

< Đặc biệt, trong bóng tối dày đặc, không có gió lùa vào vẫn có những con cua, nhện, dế sinh sống. Chúng kiếm ăn, sinh tồn thế nào vẫn là bí ẩn.

Từ ngăn thứ hai của hang Hồ Động Tiên có hai cửa thông ra một hồ nước, xung quanh có núi đá vôi bao bọc.

< Những “gác xép” treo trên vách hang là tư liệu quý về quá trình hình thành hang động trên Vịnh Hạ Long.

Người ta gọi những hồ nước kiểu này là áng. Thực chất đây là một phễu karst có phần đáy bị ngập nước. Đó là một loại môi trường sinh thái đặc biệt, vừa biệt lập vừa lưu thông với biển thông qua hệ thống hang ngầm và khe nứt trong đá vôi. Vì thế, trong các áng thường có hệ sinh vật độc đáo, có thể gồm nhiều loài đặc hữu.

Việc cơ quan quản lý chưa cho phép đưa du khách vào hang như các hang động khác trên Vịnh, đã giúp cho các nhũ đá trong hang giữ được trạng thái tự nhiên.

Các khối thạch nhũ ở đây phô diễn hết vẻ long lanh huyền bí của mình. Hàng triệu tinh thể canxit ánh lên kỳ diệu khi có ánh sáng nhẹ dọi vào. Điều đó ở những hang động đã khai thác như Sửng Sốt, Thiên Cung, Đầu Gỗ không bao giờ còn nữa…

Long Tiên: thạch động ở Thủ đô

Người xưa kể rằng, từ thuở khai thiên lập địa, bỗng có sao tử vi sa xuống vùng đất Phụng Châu (huyện Chương Mỹ, Hà Nội) làm thành dãy Tử Trầm Sơn kỳ vĩ. Ngọn núi này trên có chùa, dưới có động, xung quanh phong thủy hữu tình nên được liệt vào hàng danh thắng.

Thạch động giữa đồng bằng

Dãy Tử Trầm Sơn vốn được coi là một hiện tượng độc đáo của trời đất khi một mình sừng sững giữa vùng đồng bằng trù phú. Người xưa cho rằng, dãy núi này có phong, có thủy, có động, có chùa nên không những là một danh thắng mà còn là nơi nhiều vượng khí. Trong lòng núi còn xuất hiện một thạch động rất đẹp. Từ xưa, người ta gọi đây là động Long Tiên.

Nhìn bên ngoài, cửa động khá hẹp, rộng chừng hơn 7m và chỉ cao hơn 3m. Trong động có chùa được xây dựng từ thế kỷ XV. Lần đầu đến với Tử Trầm Sơn, chúng tôi không khỏi bất ngờ và thích thú khi phát hiện ra một thạch động giữa đồng bằng. Nhìn từ bên ngoài, động Long Tiên là một vùng tối đầy bí hiểm. Bước vào đó hầu như rất khó có thể quan sát được mọi vật.

Mỗi người chúng tôi trong tay cầm một chiếc đèn pin, đi men theo những bậc đá lạnh để vào sâu hơn. Tiếng bước chân vang vào lòng núi, không khí ẩm ướt, lạnh lẽo, mùi trầm hương và tiếng tí tách của những giọt nước từ lòng núi tạo nên màu sắc huyền bí, rất liêu trai.

Chùa trong động Long Tiên được gọi là chùa Hang, được xây dựng rất độc đáo. Đầu tiên là dãy những tượng Phật bằng đá được đặt ở ngay lối vào. Càng vào sâu thì tượng phật lại được đặt cao hơn. Theo quan sát của chúng tôi, bức tượng Phật to nhất ở đây được đặt ở vị trí cao nhất, vào tầm lưng chừng lòng núi.

Chúng tôi phải leo dần theo những bậc thang hẹp, xoáy dần lên tới gần bức tượng Phật. Vào những ngày âm u, thật khó để chiêm ngưỡng những nhũ đá trong động sâu. Thế nhưng, những ngày trời nắng, ánh sáng chiếu qua những khe nhỏ bên sườn núi và trên đỉnh núi tạo nên khung cảnh thật tuyệt vời. Nhìn từ dưới lên, hàng ngàn nhũ đá với đủ các hình thù, màu sắc trông giống như một bức tranh được tạc vào vách đá vậy.

Trong bức tranh kỳ thú này, cuộc sống nơi tiên giới được thiên nhiên tạo tác với muôn hình vạn trạng. Nào là mái tóc tiên, khánh đá, chuông đá, nào là hình rồng, hình chim, hoa sen đá... rất sinh động. Thời xưa, vua Lê chúa Trịnh đã đặt hành cung ở đây để thưởng ngắm cảnh vật. Trong động, hiện còn lưu giữ được 15 tác phẩm thơ văn khắc trên vách động, vịnh cảnh chùa. Đặc biệt nhất, trong động còn có hai lối đi, một lối lên đỉnh núi và một lối đi xuống hang sâu. Dân gian gọi đây là lối đi lên trời và đường xuống địa phủ.

Nơi Bác Hồ từng làm việc

Không những là một danh thắng mà động Long Tiên còn là nơi Hồ Chủ Tịch đã từng sống và làm việc trong những ngày đầu kháng chiến. Do đặc điểm là một hang động sâu, lại nằm kín ngay dưới núi Tử Trầm, hơn nữa miệng hang lại hẹp, cây cối um tùm nên nhìn từ bên ngoài vào rất khó bị phát hiện.

Khi cách mạng mới giành chính quyền, tình hình lúc đó rất phức tạp nên Trung ương Đảng đã quyết định chọn nơi này làm địa điểm làm việc cho Bác. Cũng tại nơi này, lời hiệu triệu Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch đã được phát đi.

Như vậy, động Long Tiên không chỉ là nơi Bác làm việc mà đây còn là trụ sở đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam. Hiện nay người ta đã xây dựng trước cửa động một đài tưởng niệm về sự kiện này. Không chỉ là một địa điểm quan trọng trong thời kỳ đầu cách mạng, động Long Tiên nói riêng và cả cụm di tích chùa Trầm nói chung đều trở thành "tổng hành dinh" của bộ đội ta.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1967 đến 1975, nơi đây còn là "tổng hành dinh" của Sở chỉ huy K12, nơi điều hành bộ máy chiến đấu gồm các binh chủng: Tên lửa, ra đa, không quân, cao xạ... Không chỉ đơn thuần có giá trị thẩm mỹ mà động Long Tiên còn mang trong mình rất nhiều giá trị văn hóa, lịch sử.

Chính vì những giá trị như vậy mà nơi đây có giá trị to lớn trong việc phát triển du lịch. Chỉ tiếc là các cơ quan chức năng lại chưa quy hoạch tốt điều này. Sản phẩm cũng như chất lượng dịch vụ chưa được đầu tư để phục vụ khách tham quan. Đa phần các hàng quán nơi đây đều do dân tự lập nên, tự kinh doanh. Không gian trước cửa động và cửa chùa đều bị "xẻ thịt" bởi những dãy bạt chăng tạm bợ trông rất mất mỹ quan. Xung quanh cụm di tích này, người dân còn lập ra những cơ sở sản xuất đá mỹ nghệ. Hàng ngày tiếng mài đá inh ỏi, tiếng đục đẽo, tiếng máy khoan đá ầm ầm làm mất đi cảnh quan yên tĩnh vốn có của cụm di tích nổi tiếng này.

Theo Làng Việt - ảnh internet
Người xưa kể rằng, từ thuở khai thiên lập địa, bỗng có sao tử vi sa xuống vùng đất Phụng Châu (huyện Chương Mỹ, Hà Nội) làm thành dãy Tử Trầm Sơn kỳ vĩ. Ngọn núi này trên có chùa, dưới có động, xung quanh phong thủy hữu tình nên được liệt vào hàng danh thắng.

Thạch động giữa đồng bằng

Dãy Tử Trầm Sơn vốn được coi là một hiện tượng độc đáo của trời đất khi một mình sừng sững giữa vùng đồng bằng trù phú. Người xưa cho rằng, dãy núi này có phong, có thủy, có động, có chùa nên không những là một danh thắng mà còn là nơi nhiều vượng khí. Trong lòng núi còn xuất hiện một thạch động rất đẹp. Từ xưa, người ta gọi đây là động Long Tiên.

Nhìn bên ngoài, cửa động khá hẹp, rộng chừng hơn 7m và chỉ cao hơn 3m. Trong động có chùa được xây dựng từ thế kỷ XV. Lần đầu đến với Tử Trầm Sơn, chúng tôi không khỏi bất ngờ và thích thú khi phát hiện ra một thạch động giữa đồng bằng. Nhìn từ bên ngoài, động Long Tiên là một vùng tối đầy bí hiểm. Bước vào đó hầu như rất khó có thể quan sát được mọi vật.

Mỗi người chúng tôi trong tay cầm một chiếc đèn pin, đi men theo những bậc đá lạnh để vào sâu hơn. Tiếng bước chân vang vào lòng núi, không khí ẩm ướt, lạnh lẽo, mùi trầm hương và tiếng tí tách của những giọt nước từ lòng núi tạo nên màu sắc huyền bí, rất liêu trai.

Chùa trong động Long Tiên được gọi là chùa Hang, được xây dựng rất độc đáo. Đầu tiên là dãy những tượng Phật bằng đá được đặt ở ngay lối vào. Càng vào sâu thì tượng phật lại được đặt cao hơn. Theo quan sát của chúng tôi, bức tượng Phật to nhất ở đây được đặt ở vị trí cao nhất, vào tầm lưng chừng lòng núi.

Chúng tôi phải leo dần theo những bậc thang hẹp, xoáy dần lên tới gần bức tượng Phật. Vào những ngày âm u, thật khó để chiêm ngưỡng những nhũ đá trong động sâu. Thế nhưng, những ngày trời nắng, ánh sáng chiếu qua những khe nhỏ bên sườn núi và trên đỉnh núi tạo nên khung cảnh thật tuyệt vời. Nhìn từ dưới lên, hàng ngàn nhũ đá với đủ các hình thù, màu sắc trông giống như một bức tranh được tạc vào vách đá vậy.

Trong bức tranh kỳ thú này, cuộc sống nơi tiên giới được thiên nhiên tạo tác với muôn hình vạn trạng. Nào là mái tóc tiên, khánh đá, chuông đá, nào là hình rồng, hình chim, hoa sen đá... rất sinh động. Thời xưa, vua Lê chúa Trịnh đã đặt hành cung ở đây để thưởng ngắm cảnh vật. Trong động, hiện còn lưu giữ được 15 tác phẩm thơ văn khắc trên vách động, vịnh cảnh chùa. Đặc biệt nhất, trong động còn có hai lối đi, một lối lên đỉnh núi và một lối đi xuống hang sâu. Dân gian gọi đây là lối đi lên trời và đường xuống địa phủ.

Nơi Bác Hồ từng làm việc

Không những là một danh thắng mà động Long Tiên còn là nơi Hồ Chủ Tịch đã từng sống và làm việc trong những ngày đầu kháng chiến. Do đặc điểm là một hang động sâu, lại nằm kín ngay dưới núi Tử Trầm, hơn nữa miệng hang lại hẹp, cây cối um tùm nên nhìn từ bên ngoài vào rất khó bị phát hiện.

Khi cách mạng mới giành chính quyền, tình hình lúc đó rất phức tạp nên Trung ương Đảng đã quyết định chọn nơi này làm địa điểm làm việc cho Bác. Cũng tại nơi này, lời hiệu triệu Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch đã được phát đi.

Như vậy, động Long Tiên không chỉ là nơi Bác làm việc mà đây còn là trụ sở đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam. Hiện nay người ta đã xây dựng trước cửa động một đài tưởng niệm về sự kiện này. Không chỉ là một địa điểm quan trọng trong thời kỳ đầu cách mạng, động Long Tiên nói riêng và cả cụm di tích chùa Trầm nói chung đều trở thành "tổng hành dinh" của bộ đội ta.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1967 đến 1975, nơi đây còn là "tổng hành dinh" của Sở chỉ huy K12, nơi điều hành bộ máy chiến đấu gồm các binh chủng: Tên lửa, ra đa, không quân, cao xạ... Không chỉ đơn thuần có giá trị thẩm mỹ mà động Long Tiên còn mang trong mình rất nhiều giá trị văn hóa, lịch sử.

Chính vì những giá trị như vậy mà nơi đây có giá trị to lớn trong việc phát triển du lịch. Chỉ tiếc là các cơ quan chức năng lại chưa quy hoạch tốt điều này. Sản phẩm cũng như chất lượng dịch vụ chưa được đầu tư để phục vụ khách tham quan. Đa phần các hàng quán nơi đây đều do dân tự lập nên, tự kinh doanh. Không gian trước cửa động và cửa chùa đều bị "xẻ thịt" bởi những dãy bạt chăng tạm bợ trông rất mất mỹ quan. Xung quanh cụm di tích này, người dân còn lập ra những cơ sở sản xuất đá mỹ nghệ. Hàng ngày tiếng mài đá inh ỏi, tiếng đục đẽo, tiếng máy khoan đá ầm ầm làm mất đi cảnh quan yên tĩnh vốn có của cụm di tích nổi tiếng này.

Theo Làng Việt - ảnh internet

Chùa Thạch Long - Bắc Kạn

Chùa Thạch Long (Rồng đá) thuộc xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây được mệnh danh là “chùa thiêng trong hang đá”. Ngôi chùa chứa trong mình nhiều sự tích, huyền sử đẹp.

< Đường lên tầng thượng của Chùa Thạch Long, xã Cao Kỳ.

Chùa Thạch Long thu hút hàng ngàn khách thập phương tới dự hội và dâng hương cầu phúc, cầu tài mỗi dịp xuân về. Nhiều người nói rằng, đi khắp Bắc chí Nam chưa thấy chùa nào nằm trong hang núi đá rộng, sạch mà thoáng như chùa Thạch Long. Tăng ni Phật tử tới dự hội có thể vào hang lễ Phật tới hàng ngàn người.

< Đường lên chùa.

Chuyện kể rằng, ngày xưa, người dân xã Vi Hương - Bạch Thông xuôi dòng sông Cầu rước tượng Phật Thích Ca về thờ ở làng mình là Hoa Sơn, trên đỉnh dãy núi Phja Bjoóc.

Tượng Phật bằng vàng rất nặng nên khi ngược lên Vi Hương phải kéo bằng mảng. Đến vằng Bó Mi thuộc xã Cao Kỳ ngày nay, mảng cứ xoay tròn không sao đi được. Trời đã tối, đêm ấy, người đi rước tượng phải căng lều ngủ tại vằng Bó Mi để hôm sau tính tiếp.

< Chùa Thạch Long nằm trong lòng núi đá.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, họ hốt hoảng không thấy Đức Phật đâu. Người đi rước tượng đành thắp một bó nhang to và khấn: “Nếu ngài muốn ở đây thì con đành thuận theo ý ngài, nhưng ngài hãy cho con biết nơi ngài đang thượng tọa để con cháu đời sau thờ phụng hương khói”. Dứt lời, bó nhang cuộn khói bay sang bên kia bờ sông, luồn mãi vào trong núi. Người rước tượng cứ đi theo khói nhang ấy và phát hiện ra một hang động tuyệt đẹp, rộng thênh thang. Đức Phật Thích Ca đã ngự tọa ở chốn cao nhất.

Biết hang đá thiêng, từ đó dân làng lập chùa ngay tại hang đá này. Chùa có tên Thạch Long (con rồng đá) là vì hang động nằm trong núi đá, cổng hang có hình miệng con rồng đang há.

< Một góc phía trong chùa.

Chùa có hai phần chính. Phần thứ nhất là chùa Thiên. Chùa này nằm ở trên cao, có một bậc đá xếp từ chân núi dẫn thẳng lên tới cửa động. Gian cao nhất thờ Đức Phật Thích Ca. Ở gian trung, trên bệ cao nhất có ảnh thờ Bác Hồ.

Phần thứ hai của chùa là chùa Âm, đường đến chùa Âm phải đi vòng quanh sườn núi. Cửa vào chùa Âm hẹp hơn chùa Thiên một chút. Lòng hang cũng không rộng bằng chùa Thiên. Ước chừng cao khoảng 6m, rộng 6m và có ngách ăn sâu vào bên trong.

Cả chùa Thiên và chùa Âm đều có nhiều tượng thiên tạo hình các Chư Phật. Trong lòng chùa Thiên, vách đá tự chia thành từng múi như những chiếc lọng cao và sang trọng che cho các vị Chư Phật ngồi dưới.

Không chỉ chứa trong mình nhiều huyền tích, chùa Thạch Long còn là một di tích lịch sử, là niềm tự hào của bà con xã Cao Kỳ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã 3 lần đến đây. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chùa trở thành trạm vận chuyển vũ khí và là kho vũ khí bí mật của quân đội ta. Hoà bình lập lại, chùa lại được bà con thờ tự như xưa.

< Hội chùa Thạch Long được tổ chức hàng năm.

Hội chùa Thạch Long được tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng hằng năm, thu hút rất nhiều du khách thập phương, họ đến để dâng hương cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và người thân.

Chùa Thạch Long không những là thắng cảnh đẹp của Bắc Kạn, mà còn là một di tích lịch sử. Di tích này đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, bảo vệ, tôn tạo để trở thành điểm du lịch văn hoá hấp dẫn của tỉnh Bắc Kạn.
Xem thêm >

Theo Vũ Thuý (Cổng TTĐT Bắc Kạn) + Ảnh internet
Chùa Thạch Long (Rồng đá) thuộc xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Nơi đây được mệnh danh là “chùa thiêng trong hang đá”. Ngôi chùa chứa trong mình nhiều sự tích, huyền sử đẹp.

< Đường lên tầng thượng của Chùa Thạch Long, xã Cao Kỳ.

Chùa Thạch Long thu hút hàng ngàn khách thập phương tới dự hội và dâng hương cầu phúc, cầu tài mỗi dịp xuân về. Nhiều người nói rằng, đi khắp Bắc chí Nam chưa thấy chùa nào nằm trong hang núi đá rộng, sạch mà thoáng như chùa Thạch Long. Tăng ni Phật tử tới dự hội có thể vào hang lễ Phật tới hàng ngàn người.

< Đường lên chùa.

Chuyện kể rằng, ngày xưa, người dân xã Vi Hương - Bạch Thông xuôi dòng sông Cầu rước tượng Phật Thích Ca về thờ ở làng mình là Hoa Sơn, trên đỉnh dãy núi Phja Bjoóc.

Tượng Phật bằng vàng rất nặng nên khi ngược lên Vi Hương phải kéo bằng mảng. Đến vằng Bó Mi thuộc xã Cao Kỳ ngày nay, mảng cứ xoay tròn không sao đi được. Trời đã tối, đêm ấy, người đi rước tượng phải căng lều ngủ tại vằng Bó Mi để hôm sau tính tiếp.

< Chùa Thạch Long nằm trong lòng núi đá.

Sáng hôm sau tỉnh dậy, họ hốt hoảng không thấy Đức Phật đâu. Người đi rước tượng đành thắp một bó nhang to và khấn: “Nếu ngài muốn ở đây thì con đành thuận theo ý ngài, nhưng ngài hãy cho con biết nơi ngài đang thượng tọa để con cháu đời sau thờ phụng hương khói”. Dứt lời, bó nhang cuộn khói bay sang bên kia bờ sông, luồn mãi vào trong núi. Người rước tượng cứ đi theo khói nhang ấy và phát hiện ra một hang động tuyệt đẹp, rộng thênh thang. Đức Phật Thích Ca đã ngự tọa ở chốn cao nhất.

Biết hang đá thiêng, từ đó dân làng lập chùa ngay tại hang đá này. Chùa có tên Thạch Long (con rồng đá) là vì hang động nằm trong núi đá, cổng hang có hình miệng con rồng đang há.

< Một góc phía trong chùa.

Chùa có hai phần chính. Phần thứ nhất là chùa Thiên. Chùa này nằm ở trên cao, có một bậc đá xếp từ chân núi dẫn thẳng lên tới cửa động. Gian cao nhất thờ Đức Phật Thích Ca. Ở gian trung, trên bệ cao nhất có ảnh thờ Bác Hồ.

Phần thứ hai của chùa là chùa Âm, đường đến chùa Âm phải đi vòng quanh sườn núi. Cửa vào chùa Âm hẹp hơn chùa Thiên một chút. Lòng hang cũng không rộng bằng chùa Thiên. Ước chừng cao khoảng 6m, rộng 6m và có ngách ăn sâu vào bên trong.

Cả chùa Thiên và chùa Âm đều có nhiều tượng thiên tạo hình các Chư Phật. Trong lòng chùa Thiên, vách đá tự chia thành từng múi như những chiếc lọng cao và sang trọng che cho các vị Chư Phật ngồi dưới.

Không chỉ chứa trong mình nhiều huyền tích, chùa Thạch Long còn là một di tích lịch sử, là niềm tự hào của bà con xã Cao Kỳ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác Hồ đã 3 lần đến đây. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, chùa trở thành trạm vận chuyển vũ khí và là kho vũ khí bí mật của quân đội ta. Hoà bình lập lại, chùa lại được bà con thờ tự như xưa.

< Hội chùa Thạch Long được tổ chức hàng năm.

Hội chùa Thạch Long được tổ chức vào mùng 7 tháng Giêng hằng năm, thu hút rất nhiều du khách thập phương, họ đến để dâng hương cầu may mắn, hạnh phúc cho gia đình và người thân.

Chùa Thạch Long không những là thắng cảnh đẹp của Bắc Kạn, mà còn là một di tích lịch sử. Di tích này đã và đang nhận được rất nhiều sự quan tâm, bảo vệ, tôn tạo để trở thành điểm du lịch văn hoá hấp dẫn của tỉnh Bắc Kạn.
Xem thêm >

Theo Vũ Thuý (Cổng TTĐT Bắc Kạn) + Ảnh internet

Hang Trinh Nữ - Hang Trống

Hạ Long được biết đến với những đảo đá với muôn hình thù kì lạ, và những thạch nhũ lung linh bên trong các hang động. Nhưng khách du lịch Hạ Long còn biết đến thiên nhiên nơi đây với những truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian, để giải thích về những hiện tượng thiên nhiên bí ẩn của vịnh Hạ Long.

< Trước cửa hang Trinh Nữ.

Hang Trống và Hang Trinh Nữ là 2 cái tên đã trở nên rất quen thuộc với các du khách trong và ngoài nước khi lựa chọn Hạ Long là điểm đến. Không chỉ bị thu hút bởi vẻ đẹp tuyệt diệu mà tạo hóa đã ban tặng cho 2 hang này, mà câu chuyện truyền thuyết về 2 hang cũng gây tò mò, hứng thú cho biết bao nhiêu người.

Hang Trinh Nữ nằm trên dãy đảo Bồ Hòn cùng với hệ thống động Sửng Sốt, hồ Động Tiên, Hang Luồn... cách Bãi Cháy 15 km về phía Nam. Với người dân đánh cá, họ coi hang Trinh Nữ là ngôi nhà thân yêu của họ, còn những đôi trai gái yêu nhau lại coi đây là biểu tượng, nơi thề nguyện của tình yêu.
Bước vào hang Trinh Nữ, ngay giữa lòng hang là bức tượng người con gái bằng đá, nằm xoã mái tóc dài, mắt hướng ra khơi xa đang mỏi mòn chờ mong và tuyệt vọng.

Đối diện với hang Trinh Nữ là hang Trống (còn được gọi là hang Con Trai). Bức tượng chàng trai hoá đá đang quay mặt về phía hang Trinh Nữ vẫn còn, ta như nghe thấy tiếng gào thét tuyệt vọng cùng những âm thanh gõ vào vách đá của chàng vẫn văng vẳng đâu đây. Những dấu tích của trận cuồng phong đêm đó vẫn còn đến ngày nay - đó là những đổ vỡ của đất đá ngổn ngang trong hang, tiếng gió gầm gào qua vách đá và những bọt sóng vẫn tung lên trắng xoá.

Hang  Trống và Hang Trinh Nữ chẳng những có rất nhiều nhũ đá và cảnh đẹp, mà còn hấp dẫn du khách vì một sự tích rất cảm động. Ở một hang có một tảng đá nằm ngang trông như một cô gái nằm xoã tóc vươn tay ra biển vì vậy được gọi là hang Trinh Nữ. Chiếc hang kia có một cột nhũ đá rất cao trông như một chàng trai khổng lồ đứng nhìn ra khơi xa.

Người Pháp xưa đặt cho hang cái tên La vierge (hang của người con gái).Truyền thuyết về hang Trinh Nữ là một câu chuyện tình bi thương

Chuyện xưa kể rằng: Xưa có một người con gái vạn chài xinh đẹp, nhà nghèo, gia đình cô phải đi làm thuê cho tên chủ cai quản vùng đánh cá. Thấy cô xinh đẹp, hắn ép gia đình cô gả cô làm vợ bé cho hắn, cô không chịu vì cô đã có người yêu, chàng trai đó đang ra khơi đánh cá để chuẩn bị cho ngày cưới của họ. Không làm gì nổi cô, tên địa chủ đã đày cô ra một đảo hoang nhằm khuất phục ý chí của cô, cô đói lả và kiệt sức.

Trong một đêm mưa gió hãi hùng, cô gái đã hoá đá nơi đây. Đó cũng là đêm chàng trai biết tin cô gặp nạn, chàng mải miết bơi thuyền đi tìm cô. Đến đêm, giông bão ập đến thuyền chàng vỡ nát, chàng dạt lên một đảo hoang, trong ánh chớp, chàng nhìn ra phía xa và nhận ra cô gái nhưng những lời chàng gọi đã bị gió mang đi. Chàng dùng hòn đá đập vào vách núi báo cho nàng biết rằng chàng đã đến. Chàng gõ khi máu trên tay chảy đầm đìa, tới khi kiệt sức và chàng hoá đá trong hang Trống này.

Hai hang cách nhau 700-800m qua một vụng biển nhỏ. Các cửa hang quay về hướng khác nhau. Đứng từ hang này mà hét to thì ở hang kia có thể nghe thấy. Dân chài nói là vào các ngày mưa to gió lớn, đi qua đây nghe tiếng gió đập vào vách núi bập bùng như tiếng trống.
Xem thêm >

Theo Khánh Chi (Thể Thao Việt Nam)
Hạ Long được biết đến với những đảo đá với muôn hình thù kì lạ, và những thạch nhũ lung linh bên trong các hang động. Nhưng khách du lịch Hạ Long còn biết đến thiên nhiên nơi đây với những truyền thuyết được lưu truyền trong dân gian, để giải thích về những hiện tượng thiên nhiên bí ẩn của vịnh Hạ Long.

< Trước cửa hang Trinh Nữ.

Hang Trống và Hang Trinh Nữ là 2 cái tên đã trở nên rất quen thuộc với các du khách trong và ngoài nước khi lựa chọn Hạ Long là điểm đến. Không chỉ bị thu hút bởi vẻ đẹp tuyệt diệu mà tạo hóa đã ban tặng cho 2 hang này, mà câu chuyện truyền thuyết về 2 hang cũng gây tò mò, hứng thú cho biết bao nhiêu người.

Hang Trinh Nữ nằm trên dãy đảo Bồ Hòn cùng với hệ thống động Sửng Sốt, hồ Động Tiên, Hang Luồn... cách Bãi Cháy 15 km về phía Nam. Với người dân đánh cá, họ coi hang Trinh Nữ là ngôi nhà thân yêu của họ, còn những đôi trai gái yêu nhau lại coi đây là biểu tượng, nơi thề nguyện của tình yêu.
Bước vào hang Trinh Nữ, ngay giữa lòng hang là bức tượng người con gái bằng đá, nằm xoã mái tóc dài, mắt hướng ra khơi xa đang mỏi mòn chờ mong và tuyệt vọng.

Đối diện với hang Trinh Nữ là hang Trống (còn được gọi là hang Con Trai). Bức tượng chàng trai hoá đá đang quay mặt về phía hang Trinh Nữ vẫn còn, ta như nghe thấy tiếng gào thét tuyệt vọng cùng những âm thanh gõ vào vách đá của chàng vẫn văng vẳng đâu đây. Những dấu tích của trận cuồng phong đêm đó vẫn còn đến ngày nay - đó là những đổ vỡ của đất đá ngổn ngang trong hang, tiếng gió gầm gào qua vách đá và những bọt sóng vẫn tung lên trắng xoá.

Hang  Trống và Hang Trinh Nữ chẳng những có rất nhiều nhũ đá và cảnh đẹp, mà còn hấp dẫn du khách vì một sự tích rất cảm động. Ở một hang có một tảng đá nằm ngang trông như một cô gái nằm xoã tóc vươn tay ra biển vì vậy được gọi là hang Trinh Nữ. Chiếc hang kia có một cột nhũ đá rất cao trông như một chàng trai khổng lồ đứng nhìn ra khơi xa.

Người Pháp xưa đặt cho hang cái tên La vierge (hang của người con gái).Truyền thuyết về hang Trinh Nữ là một câu chuyện tình bi thương

Chuyện xưa kể rằng: Xưa có một người con gái vạn chài xinh đẹp, nhà nghèo, gia đình cô phải đi làm thuê cho tên chủ cai quản vùng đánh cá. Thấy cô xinh đẹp, hắn ép gia đình cô gả cô làm vợ bé cho hắn, cô không chịu vì cô đã có người yêu, chàng trai đó đang ra khơi đánh cá để chuẩn bị cho ngày cưới của họ. Không làm gì nổi cô, tên địa chủ đã đày cô ra một đảo hoang nhằm khuất phục ý chí của cô, cô đói lả và kiệt sức.

Trong một đêm mưa gió hãi hùng, cô gái đã hoá đá nơi đây. Đó cũng là đêm chàng trai biết tin cô gặp nạn, chàng mải miết bơi thuyền đi tìm cô. Đến đêm, giông bão ập đến thuyền chàng vỡ nát, chàng dạt lên một đảo hoang, trong ánh chớp, chàng nhìn ra phía xa và nhận ra cô gái nhưng những lời chàng gọi đã bị gió mang đi. Chàng dùng hòn đá đập vào vách núi báo cho nàng biết rằng chàng đã đến. Chàng gõ khi máu trên tay chảy đầm đìa, tới khi kiệt sức và chàng hoá đá trong hang Trống này.

Hai hang cách nhau 700-800m qua một vụng biển nhỏ. Các cửa hang quay về hướng khác nhau. Đứng từ hang này mà hét to thì ở hang kia có thể nghe thấy. Dân chài nói là vào các ngày mưa to gió lớn, đi qua đây nghe tiếng gió đập vào vách núi bập bùng như tiếng trống.
Xem thêm >

Theo Khánh Chi (Thể Thao Việt Nam)