Hiển thị các bài đăng có nhãn Núi. Hiển thị tất cả bài đăng

Mẫu Sơn thành... ốc đảo

(TPO) - Đến đầu giờ chiều ngày 14/11, khu du lịch Mẫu Sơn vẫn trở thành “ốc đảo” bởi đường chưa thông.

< Không còn hình thù con đường lên Mẫu Sơn.

Người dân gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phóng viên Tiền Phong ghi lại một số hình ảnh Mẫu Sơn tan hoang sau siêu bão Hải Yến, rất cần sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp chính quyền tỉnh Lạng Sơn.
Theo quan sát của phóng viên, công việc sửa chữa con đường dẫn lên Khu du lịch đang được tiến hành do Hạt 4 (thuộc Cty Quản lý và XD Giao thông Lạng Sơn) đảm nhiệm, nhưng chỉ có một chiếc máy xúc làm việc ì ạch, rất chậm.

< Ô tô nhà cửa bị đất, đá bao vây.

Nhiều đoàn khách du lịch ở Hà Nội, Thái Bình đến Km số 7, phải dừng xe ô tô, đi bộ ngược núi. Ông Nguyễn Tùng (Chủ khách sạn Chân Mây), cho biết: “Đến 13 giờ hôm nay, điện lưới mới có trở lại.

Do không có đường đi nên người dân bị cô lập nhiều ngày, nguồn lương thực, thực phẩm cạn kiệt. Nhiều người liều mình băng đèo, lội suối, xuống phố mua gạo, muối, mỡ”.

< Nhiều nhà sống cạnh hố “tử thần”.

Theo nhiều người dân ở Mẫu Sơn phản ánh, mặc dù có những thông tin thiệt hại nặng nề ở Mẫu Sơn, thế nhưng, đến nay vẫn chưa có cán bộ của tỉnh, của huyện hoặc Ban quản lý Khu du lịch Mẫu Sơn lên thực địa, nắm bắt tình hình, giúp đỡ đồng bào.

Theo báo Tiền Phong
(TPO) - Đến đầu giờ chiều ngày 14/11, khu du lịch Mẫu Sơn vẫn trở thành “ốc đảo” bởi đường chưa thông.

< Không còn hình thù con đường lên Mẫu Sơn.

Người dân gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Phóng viên Tiền Phong ghi lại một số hình ảnh Mẫu Sơn tan hoang sau siêu bão Hải Yến, rất cần sự quan tâm, giúp đỡ của các cấp chính quyền tỉnh Lạng Sơn.
Theo quan sát của phóng viên, công việc sửa chữa con đường dẫn lên Khu du lịch đang được tiến hành do Hạt 4 (thuộc Cty Quản lý và XD Giao thông Lạng Sơn) đảm nhiệm, nhưng chỉ có một chiếc máy xúc làm việc ì ạch, rất chậm.

< Ô tô nhà cửa bị đất, đá bao vây.

Nhiều đoàn khách du lịch ở Hà Nội, Thái Bình đến Km số 7, phải dừng xe ô tô, đi bộ ngược núi. Ông Nguyễn Tùng (Chủ khách sạn Chân Mây), cho biết: “Đến 13 giờ hôm nay, điện lưới mới có trở lại.

Do không có đường đi nên người dân bị cô lập nhiều ngày, nguồn lương thực, thực phẩm cạn kiệt. Nhiều người liều mình băng đèo, lội suối, xuống phố mua gạo, muối, mỡ”.

< Nhiều nhà sống cạnh hố “tử thần”.

Theo nhiều người dân ở Mẫu Sơn phản ánh, mặc dù có những thông tin thiệt hại nặng nề ở Mẫu Sơn, thế nhưng, đến nay vẫn chưa có cán bộ của tỉnh, của huyện hoặc Ban quản lý Khu du lịch Mẫu Sơn lên thực địa, nắm bắt tình hình, giúp đỡ đồng bào.

Theo báo Tiền Phong

Lo cho Phanxipăng

(TTO) - Vài năm trước, nghe nói Phanxipăng sẽ làm cáp treo. Cứ tưởng thiên hạ đồn chơi. Ai dè kế hoạch đã được tỉnh Lào Cai phê duyệt và vừa khởi công. Dự án bao gồm cả resort cao cấp, sân golf 18 lỗ, các khu vui chơi giải trí... dự kiến hoàn thành vào dịp quốc khánh năm 2015.

Cáp treo ở Phanxipăng là cáp treo ba dây, mỗi cabin chứa được 35 khách, công suất vận chuyển 2.000 người mỗi giờ...
Đọc những thông tin trên, nhiều người vui và cũng nhiều người buồn. Người vui, mừng cho Sa Pa có thêm nhà đầu tư lớn. Mai này chỉ cần 15 phút cáp treo là lên tới độ cao 2.800m.

Ai có sức thì leo tiếp lên đỉnh 3.143m, còn không cũng được an ủi và có thể lập lờ là đã “chinh phục nóc nhà Đông Dương”. Giống hệt LangBian ở Lâm Đồng. Ngồi xe jeep 20 phút lên đỉnh rađa cũng vỗ ngực “chinh phục mái nhà Đà Lạt”, dù chỉ mới ở độ cao 1.950m. Trong khi đỉnh cao nhất là 2.169m và đường rất hiểm trở. Phe ủng hộ còn so sánh với Bà Nà, Đà Nẵng. Nhờ cáp treo và tổ hợp du lịch giải trí trên đỉnh, lượng khách lên Bà Nà tăng 30% mỗi năm.

Những người làm du lịch chuyên nghiệp thì buồn và lo, nhất là dân du lịch dã ngoại, sinh thái. Cánh thích leo núi mạo hiểm, trong đó có tôi thì bị sốc. Phanxipăng nằm trong vườn quốc gia Hoàng Liên, đường đi ngoạn mục, cảnh đẹp tuyệt vời. Các mỏm núi hẹp, chập chùng cây, có cả vườn chè cổ thụ ngàn năm tuổi.

Đây là điểm hẹn lý thú của những người luôn muốn “vượt qua chính mình”. Là nơi thử thách ý chí, rèn luyện bản lĩnh, kiểm tra tinh thần đồng đội... Là chốn trải nghiệm kỳ thú về động thực vật; từ cỏ cây, hoa lá, các loại côn trùng... Sau khi hoàn tất việc chinh phục Phanxipăng ba ngày hai đêm, như một khóa huấn luyện đặc biệt, nhiều học trò và đồng nghiệp trẻ của tôi đã khẳng định: “Mình giỏi hơn mình tưởng. Leo Phanxipăng được thì trên đời này chẳng có gì là không thể!”. Vậy mà huyền thoại Phanxipăng sắp bị xóa sổ.

Những kỷ lục cáp treo “phức tạp nhất, dài nhất, độc đáo nhất...” để làm gì khi môi trường và cảnh quan bị tàn phá, còn thực tế du lịch VN vẫn ì ạch. Bà Nà tăng trưởng 30% nhưng chỉ vài năm đầu, khách nước ngoài rất ít lên Bà Nà dù ngày xưa đây là nơi nghỉ dưỡng thú vị của họ. Thiên hạ lên Bà Nà vì tò mò để rồi thất vọng bởi sự ngột ngạt bêtông. Những ai từng lên Bà Nà khi chưa có cáp treo càng tiếc nuối.

Đà Nẵng nóng nên phải lên Bà Nà cho mát. Đằng này, Sa Pa vốn đã lạnh, cần gì lên Phanxipăng cho cóng? Khách đến Sa Pa năm 2012 chưa tới 1 triệu và gần 1/3 là khách nước ngoài. Tỉ lệ tăng trưởng nghịch giữa khách trong và ngoài nước đã nói lên thực trạng “Sa Pa đang ngày càng mất dần nét chân quê, mộc mạc”. Không khéo Sa Pa sẽ như Đà Lạt, chỉ còn khách nội địa là chủ yếu.

Ngoài căn bệnh bêtông hóa các điểm du lịch, VN còn có “hội chứng” cáp treo, cứ đua nhau lập kỷ lục thế giới. Riết chẳng còn chỗ nào thiên nhiên không bị xâm hại. Hễ đã có cáp treo thì chẳng còn ai leo đường bộ. Làm sao leo bộ nổi khi trên đầu mình thiên hạ nhí nhố? Càng không thể lý sự kiểu “đi cáp treo để tiết kiệm thời gian. Lên 2.800m rồi leo bộ tiếp”. Leo núi, phải leo từ đầu để làm quen với thử thách và sự thay đổi chứ không thể “đi tắt đón đầu”. Cứ một bước lên xe, hai bước là cáp treo thì con người sẽ hèn về thể lực, yếu về tinh thần, nhụt về ý chí.

Nhìn sang Malaysia, chỉ có ba di sản thế giới (VN 17) cũng không có nhiều cáp treo kỷ lục, nhưng lượng khách và lợi nhuận từ du lịch gần gấp năm lần VN. Kinabalu, ngọn núi cao nhất Asean, 4.095m, có thể được xem là mô hình để VN học tập. Mỗi ngày Kinabalu chỉ cho phép leo tối đa 120 người. Du khách phải đăng ký trước cả nửa năm, xếp hàng chờ đến lượt. Trước khi leo, mỗi người đều được kiểm tra sức khỏe và tuân thủ nghiêm nhặt các quy định về vật dụng leo núi, hướng dẫn viên.

Dọc đường có trạm dừng chụp ảnh, vệ sinh, y tế, cứu hộ... Hoàn tất, từng thành viên được cấp giấy chứng nhận và huy hiệu trang trọng. Còn Phanxipăng muốn leo bao nhiêu tùy hỉ, tất cả đều “tự cung tự xử” từ nhà vệ sinh, y tế đến cứu hộ... Bảng tên chỉ đường và bản đồ lộ trình thì nhếch nhác.

Chỉ 20% số tiền đầu tư cho dự án cáp treo hoành tráng là đủ để thay đổi hẳn diện mạo Phanxipăng. Được vậy, Phanxipăng vừa có thể sánh vai với Kinabalu, vừa đảm bảo cảnh quan môi trường và phát triển du lịch bền vững. Khi cáp treo Phanxipăng đưa vào hoạt động, huyền thoại và niềm kiêu hãnh “chinh phục nóc nhà Đông Dương” chỉ còn là hoài niệm tiếc nuối.
Xem thêm >

Theo Nguyễn Văn Mỹ (Chủ nhiệm Câu lạc bộ hướng dẫn viên TP.HCM) - báo Tuổi Trẻ.
(TTO) - Vài năm trước, nghe nói Phanxipăng sẽ làm cáp treo. Cứ tưởng thiên hạ đồn chơi. Ai dè kế hoạch đã được tỉnh Lào Cai phê duyệt và vừa khởi công. Dự án bao gồm cả resort cao cấp, sân golf 18 lỗ, các khu vui chơi giải trí... dự kiến hoàn thành vào dịp quốc khánh năm 2015.

Cáp treo ở Phanxipăng là cáp treo ba dây, mỗi cabin chứa được 35 khách, công suất vận chuyển 2.000 người mỗi giờ...
Đọc những thông tin trên, nhiều người vui và cũng nhiều người buồn. Người vui, mừng cho Sa Pa có thêm nhà đầu tư lớn. Mai này chỉ cần 15 phút cáp treo là lên tới độ cao 2.800m.

Ai có sức thì leo tiếp lên đỉnh 3.143m, còn không cũng được an ủi và có thể lập lờ là đã “chinh phục nóc nhà Đông Dương”. Giống hệt LangBian ở Lâm Đồng. Ngồi xe jeep 20 phút lên đỉnh rađa cũng vỗ ngực “chinh phục mái nhà Đà Lạt”, dù chỉ mới ở độ cao 1.950m. Trong khi đỉnh cao nhất là 2.169m và đường rất hiểm trở. Phe ủng hộ còn so sánh với Bà Nà, Đà Nẵng. Nhờ cáp treo và tổ hợp du lịch giải trí trên đỉnh, lượng khách lên Bà Nà tăng 30% mỗi năm.

Những người làm du lịch chuyên nghiệp thì buồn và lo, nhất là dân du lịch dã ngoại, sinh thái. Cánh thích leo núi mạo hiểm, trong đó có tôi thì bị sốc. Phanxipăng nằm trong vườn quốc gia Hoàng Liên, đường đi ngoạn mục, cảnh đẹp tuyệt vời. Các mỏm núi hẹp, chập chùng cây, có cả vườn chè cổ thụ ngàn năm tuổi.

Đây là điểm hẹn lý thú của những người luôn muốn “vượt qua chính mình”. Là nơi thử thách ý chí, rèn luyện bản lĩnh, kiểm tra tinh thần đồng đội... Là chốn trải nghiệm kỳ thú về động thực vật; từ cỏ cây, hoa lá, các loại côn trùng... Sau khi hoàn tất việc chinh phục Phanxipăng ba ngày hai đêm, như một khóa huấn luyện đặc biệt, nhiều học trò và đồng nghiệp trẻ của tôi đã khẳng định: “Mình giỏi hơn mình tưởng. Leo Phanxipăng được thì trên đời này chẳng có gì là không thể!”. Vậy mà huyền thoại Phanxipăng sắp bị xóa sổ.

Những kỷ lục cáp treo “phức tạp nhất, dài nhất, độc đáo nhất...” để làm gì khi môi trường và cảnh quan bị tàn phá, còn thực tế du lịch VN vẫn ì ạch. Bà Nà tăng trưởng 30% nhưng chỉ vài năm đầu, khách nước ngoài rất ít lên Bà Nà dù ngày xưa đây là nơi nghỉ dưỡng thú vị của họ. Thiên hạ lên Bà Nà vì tò mò để rồi thất vọng bởi sự ngột ngạt bêtông. Những ai từng lên Bà Nà khi chưa có cáp treo càng tiếc nuối.

Đà Nẵng nóng nên phải lên Bà Nà cho mát. Đằng này, Sa Pa vốn đã lạnh, cần gì lên Phanxipăng cho cóng? Khách đến Sa Pa năm 2012 chưa tới 1 triệu và gần 1/3 là khách nước ngoài. Tỉ lệ tăng trưởng nghịch giữa khách trong và ngoài nước đã nói lên thực trạng “Sa Pa đang ngày càng mất dần nét chân quê, mộc mạc”. Không khéo Sa Pa sẽ như Đà Lạt, chỉ còn khách nội địa là chủ yếu.

Ngoài căn bệnh bêtông hóa các điểm du lịch, VN còn có “hội chứng” cáp treo, cứ đua nhau lập kỷ lục thế giới. Riết chẳng còn chỗ nào thiên nhiên không bị xâm hại. Hễ đã có cáp treo thì chẳng còn ai leo đường bộ. Làm sao leo bộ nổi khi trên đầu mình thiên hạ nhí nhố? Càng không thể lý sự kiểu “đi cáp treo để tiết kiệm thời gian. Lên 2.800m rồi leo bộ tiếp”. Leo núi, phải leo từ đầu để làm quen với thử thách và sự thay đổi chứ không thể “đi tắt đón đầu”. Cứ một bước lên xe, hai bước là cáp treo thì con người sẽ hèn về thể lực, yếu về tinh thần, nhụt về ý chí.

Nhìn sang Malaysia, chỉ có ba di sản thế giới (VN 17) cũng không có nhiều cáp treo kỷ lục, nhưng lượng khách và lợi nhuận từ du lịch gần gấp năm lần VN. Kinabalu, ngọn núi cao nhất Asean, 4.095m, có thể được xem là mô hình để VN học tập. Mỗi ngày Kinabalu chỉ cho phép leo tối đa 120 người. Du khách phải đăng ký trước cả nửa năm, xếp hàng chờ đến lượt. Trước khi leo, mỗi người đều được kiểm tra sức khỏe và tuân thủ nghiêm nhặt các quy định về vật dụng leo núi, hướng dẫn viên.

Dọc đường có trạm dừng chụp ảnh, vệ sinh, y tế, cứu hộ... Hoàn tất, từng thành viên được cấp giấy chứng nhận và huy hiệu trang trọng. Còn Phanxipăng muốn leo bao nhiêu tùy hỉ, tất cả đều “tự cung tự xử” từ nhà vệ sinh, y tế đến cứu hộ... Bảng tên chỉ đường và bản đồ lộ trình thì nhếch nhác.

Chỉ 20% số tiền đầu tư cho dự án cáp treo hoành tráng là đủ để thay đổi hẳn diện mạo Phanxipăng. Được vậy, Phanxipăng vừa có thể sánh vai với Kinabalu, vừa đảm bảo cảnh quan môi trường và phát triển du lịch bền vững. Khi cáp treo Phanxipăng đưa vào hoạt động, huyền thoại và niềm kiêu hãnh “chinh phục nóc nhà Đông Dương” chỉ còn là hoài niệm tiếc nuối.
Xem thêm >

Theo Nguyễn Văn Mỹ (Chủ nhiệm Câu lạc bộ hướng dẫn viên TP.HCM) - báo Tuổi Trẻ.

Thoáng buồn Hải Vân Quan...

(Infonet) - Là một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đã được công nhận, thế nhưng Hải Vân Quan đang không được “đối xử công bằng” như những di tích khác…

Hải Vân Quan là dấu ấn niềm kiêu hãnh của người Việt từ thời cha ông đi mở mang bờ cõi. Sử sách xưa chép rằng, Hải Vân Quan được xây dựng vào đơi Trần và được trùng tu thời Nguyễn năm Bính Tuất (1826), niên hiệu Minh Mạng thứ 7. Trước đó, khi thân chinh đi đánh Chiêm Thành (1470), lúc đi ngang qua đèo Hải Vân, vua Lê Thánh Tông đã ngỡ ngàng trước cảnh đẹp và địa hình núi non hiểm trở nên đã đặt cho nơi đây là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.

Nằm sừng sững án ngữ trên đỉnh đèo Hải Vân với vẻ đẹp hoang vu và bình yên, Hải Vân Quan là điểm dừng chân của hàng trăm du khách thập phương mỗi ngày. Lẻ loi cô độc chốn non cao sương trắng, sự thờ ơ của con người và sự bào mòn của thiên nhiên đã làm cho di tích này đang dần trở nên hoang phế theo thời gian…

Du khách cũng phải ngán ngẩm

Một ngày cuối tháng 10, vượt quảng đường đèo Hải Vân cheo leo, khúc khuỷu khoảng 30km bằng xe máy từ Đà Nẵng, chúng tôi đã có mặt tại Hải Vân Quan.

< Rác rải khắp Hải Vân Quan.

Lối nhỏ lên cổng thành lởm chởm, cỏ dại mọc um tùm, còn có cả rác rưởi vứt bừa bãi. Sự bào mòn của thiên nhiên theo thời gian đã khiến những viên gạch trên cổng thành rạn nứt, đổ nát. Những dòng chữ vua Lê ban tặng cũng bị rêu mốc làm mờ dần không còn nhìn thấy rõ.

Gần đó, các lô cốt do quân đội Pháp xây dựng cho quân lính đặt ống nhòm, chĩa súng ra đường để bảo vệ ngọn đèo này cũng đã đổ gãy, cây cối mọc um tùm bao quanh. Đối diện cửa thành hướng về Đà Nẵng là ngôi nhà được Pháp xây dựng cho người trông coi Hải Vân Quan ở đã bị bỏ hoang nhiều năm nay.

Cơn bão số 11 qua đã được 9 ngày, nhưng cây cối gãy đổ sập vào bia di tích của một trận đánh (có tên là Đồn Nhất), nhưng cũng không có ai chặt dọn. Những hình ảnh hoang tàn, xập xệ khiến cho du khách không khỏi lắc đầu, ngán ngẩm.

Jack Fielding, một du khách người Anh chia sẻ: “Tôi tới đây lần đầu tiên và thấy cảnh ở đây rất đẹp, rất hung vĩ. Nhưng rác rưởi không có người dọn nhìn bẩn quá”. “Tôi nghĩ cần đặt thêm thùng rác ở đây nữa để giữ gìn cảnh quan chung.” Harry Standard, một du khách góp chuyện.

< Vẻ xập xệ bên trong căn nhà do Pháp xây dựng để người gác HVQ nghỉ ngơi đã bị bỏ hoang nhiều năm nay.

Suy nghĩ của Jack và Harry chắc cũng giống như bao du khách tới đây, họ còn biết cần làm gì ngay để giữ những vẻ đẹp cho nơi từng được vua Lê ngày xưa đặt cho là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” . Tại sao chúng ta vẫn chưa có những phương án tu bổ và nâng cấp? Đó là câu hỏi cần dành cho các ngành chức năng có trách nhiệm phải suy nghĩ và cần sớm lên phương án thực hiện.

Nạn chèo kéo khách… cấm nhưng vẫn còn

Rất vui là ngày 28/02/2013, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 1527/QĐ-UBND về việc Công nhận Đỉnh đèo Hải Vân là điểm du lịch địa phương của thành phố Đà Nẵng, có tên tiếng Anh là HAIVAN PASS SCENIC LOOKOUT.

Theo Quyết định, Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) có trách nhiệm tổ chức quản lý, khai thác, tu bổ và nâng cấp, bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo đảm an ninh trật tự tại điểm du lịch.

< Nạn hàng rong chèo kéo khách du lịch tại đây.

Tổ trực thường xuyên trên đỉnh đèo gồm lực lượng dân quân thường trực của UBND phường Hòa Hiệp Bắc cùng lực lượng Bộ đội Biên phòng Đồn Hải Vân hoạt động khá tích cực nên an ninh đảm bảo hơn. Theo ghi nhận, chúng tôi thấy tình trạng hàng rong chèo kéo khách du lịch đã giảm, nhưng vẫn chưa dứt điểm.

Lân la hỏi chuyện một chị bán hàng quán ở đây đã được 23 năm, chúng tôi biết được biết đội quân bán hàng rong ở đây vẫn tồn tại và có tới hơn 30 người. “Trước kia, họ hành nghề bát nháo mỗi ngày. Từ khi có lính biên phòng túc trực giữ trật tự ở đây thì họ lại bày kế mới hoạt động chứ không chịu thua. Anh lính gác có mặt ở đây lúc 8h, thì họ đã đi lên đây từ tờ mờ sáng. Trong lúc chờ đợi anh lính hết giờ gác, họ ngồi trong quán lập hội đánh bài. Tầm 2h chiều, anh lính đi về thì họ lại ùa ra hành nghề tiếp.

Họ bám theo khách dai như đỉa, nhằm bán những chiếc vòng tay lưu niệm đắt gấp 3, gấp 4 lần bình thường. Chúng tôi thấy cũng không dám nói một lời, cũng không ai dám tố cáo. Vì họ mà biết, họ sẵn sàng đáp trả ngay. Họ dữ dằn lắm” - Chị bán hàng quán xin được phép dấu tên cho biết.

Đã đến lúc cần có những phương án để tổ chức quản lý, khai thác, tu bổ và nâng cấp, bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo đảm an ninh trật tự và phát triển tại điểm du lịch lý tưởng của vùng Tây Bắc thành phố, giữ hình ảnh đẹp khu du lịch trong mắt những du khách thập phương về đây.
Xem thêm >

Theo Quỳnh Lưu (Infonet)
(Infonet) - Là một di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia đã được công nhận, thế nhưng Hải Vân Quan đang không được “đối xử công bằng” như những di tích khác…

Hải Vân Quan là dấu ấn niềm kiêu hãnh của người Việt từ thời cha ông đi mở mang bờ cõi. Sử sách xưa chép rằng, Hải Vân Quan được xây dựng vào đơi Trần và được trùng tu thời Nguyễn năm Bính Tuất (1826), niên hiệu Minh Mạng thứ 7. Trước đó, khi thân chinh đi đánh Chiêm Thành (1470), lúc đi ngang qua đèo Hải Vân, vua Lê Thánh Tông đã ngỡ ngàng trước cảnh đẹp và địa hình núi non hiểm trở nên đã đặt cho nơi đây là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.

Nằm sừng sững án ngữ trên đỉnh đèo Hải Vân với vẻ đẹp hoang vu và bình yên, Hải Vân Quan là điểm dừng chân của hàng trăm du khách thập phương mỗi ngày. Lẻ loi cô độc chốn non cao sương trắng, sự thờ ơ của con người và sự bào mòn của thiên nhiên đã làm cho di tích này đang dần trở nên hoang phế theo thời gian…

Du khách cũng phải ngán ngẩm

Một ngày cuối tháng 10, vượt quảng đường đèo Hải Vân cheo leo, khúc khuỷu khoảng 30km bằng xe máy từ Đà Nẵng, chúng tôi đã có mặt tại Hải Vân Quan.

< Rác rải khắp Hải Vân Quan.

Lối nhỏ lên cổng thành lởm chởm, cỏ dại mọc um tùm, còn có cả rác rưởi vứt bừa bãi. Sự bào mòn của thiên nhiên theo thời gian đã khiến những viên gạch trên cổng thành rạn nứt, đổ nát. Những dòng chữ vua Lê ban tặng cũng bị rêu mốc làm mờ dần không còn nhìn thấy rõ.

Gần đó, các lô cốt do quân đội Pháp xây dựng cho quân lính đặt ống nhòm, chĩa súng ra đường để bảo vệ ngọn đèo này cũng đã đổ gãy, cây cối mọc um tùm bao quanh. Đối diện cửa thành hướng về Đà Nẵng là ngôi nhà được Pháp xây dựng cho người trông coi Hải Vân Quan ở đã bị bỏ hoang nhiều năm nay.

Cơn bão số 11 qua đã được 9 ngày, nhưng cây cối gãy đổ sập vào bia di tích của một trận đánh (có tên là Đồn Nhất), nhưng cũng không có ai chặt dọn. Những hình ảnh hoang tàn, xập xệ khiến cho du khách không khỏi lắc đầu, ngán ngẩm.

Jack Fielding, một du khách người Anh chia sẻ: “Tôi tới đây lần đầu tiên và thấy cảnh ở đây rất đẹp, rất hung vĩ. Nhưng rác rưởi không có người dọn nhìn bẩn quá”. “Tôi nghĩ cần đặt thêm thùng rác ở đây nữa để giữ gìn cảnh quan chung.” Harry Standard, một du khách góp chuyện.

< Vẻ xập xệ bên trong căn nhà do Pháp xây dựng để người gác HVQ nghỉ ngơi đã bị bỏ hoang nhiều năm nay.

Suy nghĩ của Jack và Harry chắc cũng giống như bao du khách tới đây, họ còn biết cần làm gì ngay để giữ những vẻ đẹp cho nơi từng được vua Lê ngày xưa đặt cho là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” . Tại sao chúng ta vẫn chưa có những phương án tu bổ và nâng cấp? Đó là câu hỏi cần dành cho các ngành chức năng có trách nhiệm phải suy nghĩ và cần sớm lên phương án thực hiện.

Nạn chèo kéo khách… cấm nhưng vẫn còn

Rất vui là ngày 28/02/2013, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ra Quyết định số 1527/QĐ-UBND về việc Công nhận Đỉnh đèo Hải Vân là điểm du lịch địa phương của thành phố Đà Nẵng, có tên tiếng Anh là HAIVAN PASS SCENIC LOOKOUT.

Theo Quyết định, Chủ tịch UBND quận Liên Chiểu (Đà Nẵng) có trách nhiệm tổ chức quản lý, khai thác, tu bổ và nâng cấp, bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo đảm an ninh trật tự tại điểm du lịch.

< Nạn hàng rong chèo kéo khách du lịch tại đây.

Tổ trực thường xuyên trên đỉnh đèo gồm lực lượng dân quân thường trực của UBND phường Hòa Hiệp Bắc cùng lực lượng Bộ đội Biên phòng Đồn Hải Vân hoạt động khá tích cực nên an ninh đảm bảo hơn. Theo ghi nhận, chúng tôi thấy tình trạng hàng rong chèo kéo khách du lịch đã giảm, nhưng vẫn chưa dứt điểm.

Lân la hỏi chuyện một chị bán hàng quán ở đây đã được 23 năm, chúng tôi biết được biết đội quân bán hàng rong ở đây vẫn tồn tại và có tới hơn 30 người. “Trước kia, họ hành nghề bát nháo mỗi ngày. Từ khi có lính biên phòng túc trực giữ trật tự ở đây thì họ lại bày kế mới hoạt động chứ không chịu thua. Anh lính gác có mặt ở đây lúc 8h, thì họ đã đi lên đây từ tờ mờ sáng. Trong lúc chờ đợi anh lính hết giờ gác, họ ngồi trong quán lập hội đánh bài. Tầm 2h chiều, anh lính đi về thì họ lại ùa ra hành nghề tiếp.

Họ bám theo khách dai như đỉa, nhằm bán những chiếc vòng tay lưu niệm đắt gấp 3, gấp 4 lần bình thường. Chúng tôi thấy cũng không dám nói một lời, cũng không ai dám tố cáo. Vì họ mà biết, họ sẵn sàng đáp trả ngay. Họ dữ dằn lắm” - Chị bán hàng quán xin được phép dấu tên cho biết.

Đã đến lúc cần có những phương án để tổ chức quản lý, khai thác, tu bổ và nâng cấp, bảo vệ cảnh quan môi trường, bảo đảm an ninh trật tự và phát triển tại điểm du lịch lý tưởng của vùng Tây Bắc thành phố, giữ hình ảnh đẹp khu du lịch trong mắt những du khách thập phương về đây.
Xem thêm >

Theo Quỳnh Lưu (Infonet)

Đường lên Trống Pá Sang

(ANTĐ) - Huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) mùa này đang ngập trong sắc vàng của những thửa ruộng bậc thang vào mùa gặt. Đó cũng là thời điểm để những người chơi ảnh, những đoàn du lịch bụi tìm đến với những cái tên như Cao Phạ, La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình… nhưng với đỉnh Trống Pá Sang không phải ai cũng biết để mà tìm tới.

Nói vậy bởi con đường từ Ngã Ba Kim (thuộc xã Púng Luông) lên tới địa phận Trống Pá, một bản hẻo lánh thuộc xã Cao Phạ cũng chỉ vỏn vẹn hơn chục ki lô mét. Nhưng để lên được tới đây phải vượt qua những con dốc lởm chởm toàn đá, suối chảy tràn hết cả mặt đường, rồi lội qua những vũng bùn nuốt trọn hai bánh xe, qua những con đường đất hẹp chỉ vừa đủ một bánh xe qua.

Phải mất tới gần 2 tiếng đồng hồ bạn mới chinh phục được hết con đường độc đạo dài hơn 10km, với địa thế hiểm trở, dốc cao chạm trời, không có hộ dân cư nào sinh sống ven đường và không cả sóng điện thoại này. Vào những ngày mưa gió, vách núi ở trên lúc nào cũng như trực chờ sập xuống cô lập bản Trống Pá với thế giới bên ngoài.

Nhưng, hình như càng cách biệt với bên ngoài bao nhiêu thì khung cảnh của nơi đây càng ảo diệu bấy nhiêu. Ngọn núi Trống Pá Sang cao 2.200m, đó là theo số liệu mà thiết bị GPS chúng tôi mang theo chỉ ra chứ kỳ thực địa danh này còn chưa có trên bản đồ đường bộ, đây được coi là điểm cao nhất của hai xã La Pán Tẩn và Cao Phạ.

Từ đỉnh cao nhìn ra xung quanh có thể bao quát toàn bộ La Pán Tẩn, một phần Chế Cu Nha và trông sang cả Nậm Khắt và phía đèo Khau Phạ. Cảm giác đứng trên biển lúa với những lớp sóng vàng nối tiếp nhau chạy dài phía dưới thật kỳ thú và khác lạ vô cùng. Những bậc thang dát vàng bắt từ chân  lên tận đỉnh những ngọn núi vốn quanh năm chìm trong mây giờ bỗng như thu nhỏ lại dưới chân người lữ khách. Phía dưới thung lũng, con suối vắt ngang qua những thửa ruộng đang tung bọt trắng xóa mang lại nguồn nước cho sự trù phú, no ấm của các bản làng.

Đến với Trống Pá Sang để cảm nhận vẻ đẹp ban sơ, ảo diệu của đất nước và để trải lòng mình với con người nơi đây. Dẫu cho cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn nhưng những cụ già, em nhỏ và người dân bạn gặp trên đường vẫn luôn nở nụ cười thân thiện chào đón khách đường xa. Rời Trống Pá Sang, trong lòng mỗi người đều mang theo một lời hứa sẽ quay lại, sẽ mang theo chút thảo thơm của người miền xuôi tới bản làng như một lời cảm ơn chân tình nhất.

Theo Tuấn Linh (báo An Ninh Thủ Đô)
(ANTĐ) - Huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) mùa này đang ngập trong sắc vàng của những thửa ruộng bậc thang vào mùa gặt. Đó cũng là thời điểm để những người chơi ảnh, những đoàn du lịch bụi tìm đến với những cái tên như Cao Phạ, La Pán Tẩn, Chế Cu Nha, Dế Xu Phình… nhưng với đỉnh Trống Pá Sang không phải ai cũng biết để mà tìm tới.

Nói vậy bởi con đường từ Ngã Ba Kim (thuộc xã Púng Luông) lên tới địa phận Trống Pá, một bản hẻo lánh thuộc xã Cao Phạ cũng chỉ vỏn vẹn hơn chục ki lô mét. Nhưng để lên được tới đây phải vượt qua những con dốc lởm chởm toàn đá, suối chảy tràn hết cả mặt đường, rồi lội qua những vũng bùn nuốt trọn hai bánh xe, qua những con đường đất hẹp chỉ vừa đủ một bánh xe qua.

Phải mất tới gần 2 tiếng đồng hồ bạn mới chinh phục được hết con đường độc đạo dài hơn 10km, với địa thế hiểm trở, dốc cao chạm trời, không có hộ dân cư nào sinh sống ven đường và không cả sóng điện thoại này. Vào những ngày mưa gió, vách núi ở trên lúc nào cũng như trực chờ sập xuống cô lập bản Trống Pá với thế giới bên ngoài.

Nhưng, hình như càng cách biệt với bên ngoài bao nhiêu thì khung cảnh của nơi đây càng ảo diệu bấy nhiêu. Ngọn núi Trống Pá Sang cao 2.200m, đó là theo số liệu mà thiết bị GPS chúng tôi mang theo chỉ ra chứ kỳ thực địa danh này còn chưa có trên bản đồ đường bộ, đây được coi là điểm cao nhất của hai xã La Pán Tẩn và Cao Phạ.

Từ đỉnh cao nhìn ra xung quanh có thể bao quát toàn bộ La Pán Tẩn, một phần Chế Cu Nha và trông sang cả Nậm Khắt và phía đèo Khau Phạ. Cảm giác đứng trên biển lúa với những lớp sóng vàng nối tiếp nhau chạy dài phía dưới thật kỳ thú và khác lạ vô cùng. Những bậc thang dát vàng bắt từ chân  lên tận đỉnh những ngọn núi vốn quanh năm chìm trong mây giờ bỗng như thu nhỏ lại dưới chân người lữ khách. Phía dưới thung lũng, con suối vắt ngang qua những thửa ruộng đang tung bọt trắng xóa mang lại nguồn nước cho sự trù phú, no ấm của các bản làng.

Đến với Trống Pá Sang để cảm nhận vẻ đẹp ban sơ, ảo diệu của đất nước và để trải lòng mình với con người nơi đây. Dẫu cho cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn nhưng những cụ già, em nhỏ và người dân bạn gặp trên đường vẫn luôn nở nụ cười thân thiện chào đón khách đường xa. Rời Trống Pá Sang, trong lòng mỗi người đều mang theo một lời hứa sẽ quay lại, sẽ mang theo chút thảo thơm của người miền xuôi tới bản làng như một lời cảm ơn chân tình nhất.

Theo Tuấn Linh (báo An Ninh Thủ Đô)

Chùa Linh Sơn trên núi Bà Đen

Núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất Nam Bộ với chiều cao 986m so với mực nước biển, núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất Nam Bộ.
Chùa Linh Sơn Tiên Thạch (thường gọi là chùa Phật), chùa Thượng, chùa Bà, cùng với chùa Hang (chùa Linh Sơn Long Châu) và chùa Trung (chùa Linh Sơn Phước Trung) là những ngôi chùa nổi tiếng ở khu danh thắng núi Bà Đen.

Chùa Linh Sơn thường được gọi là chùa Bà hay chùa Bà Đen tọa lạc trên núi Bà Đen, thuộc ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Chùa do Thiền sư Đạo Trung – Thiện Hiếu thuộc chi phái Thiền Liễu Quán khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII. Nguyễn Quyết Chiến trong bài Hệ thống tự viện núi Bà Đen trong tiến trình lịch sử (Báo Giác Ngộ ngày 22 – 02 – 1997) đã cho biết 11 đời trụ trì chùa như sau: Đạo Trung – Thiện Hiếu (1783 – 1806), Thanh Thanh (1806 – 1832), Hải Hiệp (1832 – 1857), Thanh Thọ – Phước Chí (1857 – 1878), Chơn Thoại – Trừng Tùng (1879– 1910), Chánh Khâm – Tâm Hòa (1910 – 1937), Nguyên Cơ – Giác Phú (1937), Nguyên Thần – Giác Hạnh (1937 – 1938), Giác Ngọc (1938 – 1951), khuyết trụ trì (1951 – 1957), Huệ Phương (1957 – 1962), Diệu Nghĩa (từ năm 1962 đến nay).

< Ảnh xưa.

Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Năm Mậu Ngọ (1857), Tổ Phước Chí đã bỏ ngôi chùa cũ lợp lá, vách ván, tổ chức xây dựng ngôi chùa khang trang. Ngài đã vận động nhiều Phật tử góp công góp của mở rộng đường lên núi, xây dựng ngôi chánh điện và giảng đường. Cũng vào thời gian này, cách chùa khoảng 300m, một nhà sư người Chiêm Thành, tục gọi là ông Chàm và nhà sư Huệ Mạng – Kim Tiên lấy hang đá làm nơi tu hành. Khoảng năm 1864, sư Huệ Mạng khai sơn chùa Linh Sơn Long Châu.

Năm Nhâm Thân (1871), Tổ Phước Chí cho xây chùa Phước Lâm kế cận dòng sông chảy qua ấp Vĩnh Xuân để khách hành hương đi bằng đường thủy ghé chùa nghỉ ngơi trước khi lên núi. Đến đời Tổ Chơn Thoại, ngài thấy cần xây một trạm dừng tại chân núi, tạo thuận lợi cho khách hành hương, nên đã cho xây ngôi chùa Linh Sơn Phước Trung, thường gọi là chùa Trung.

Năm Canh Tuất (1910), Tổ Tâm Hòa nối tiếp trụ trì đã cho mở rộng ngôi chùa, xây dựng thêm nhà nghỉ cho khách hành hương, mở con đường rộng 6m, dài 1300m từ chùa Trung lên chùa Phật. Năm 1924, ngài cho xây nhà Tổ, Đông lang, Tây lang, nhà Trù bằng vật liệu chủ yếu là đá.

Năm 1927, ngài cho lấp hố Điện Bà (sâu 50m, rộng 70m), tương truyền là nơi Bà quyên sinh, để lấy lối lên chùa Phật. Đây là công trình lớn, ngài đã huy động hàng trăm thợ lao động suốt bốn năm mới hoàn thành. 27 năm trụ trì của Tổ Tâm Hòa là thời kỳ chùa được hưng thịnh về mặt hoằng dương đạo pháp cũng như cơ sở tự viện với hơn 100 Tăng Ni tu học, khách hành hương về chùa mỗi ngày một đông. Ngài viên tịch vào ngày 08 – 01 năm Đinh Sửu (1937).

Các đệ tử của Tổ Tâm Hòa là Giác Phú, Giác Hạnh, Giác Ngọc kế tục quản lý và phát triển hệ thống tự viện ở đây đến năm 1945. Từ năm 1945 đến năm 1956, quân Nhật rồi quân Pháp kéo lên chiếm đóng, phá hủy hoàn toàn hệ thống tự viện ở đây.

Năm 1956, ngài Nguyên Chất – Giác Điền, trụ trì chùa Phước Lâm tổ chức xây dựng lại hệ thống chùa ở núi Bà. Ngài cho tháo dỡ ngôi Thiền đường và một số căn nhà phụ của chùa chở lên núi cất chùa tạm để có nơi lễ bái của Tăng Ni và khách hành hương. Ngài cùng thầy Huệ Phương hết lòng chăm lo tôn tạo ngôi chùa Phật và chùa Hang. Năm 1957, ngài Giác Điền viên tịch, ngài Huệ Phương tiếp tục công việc đến năm 1962 thì giao nhiệm vụ trụ trì cho Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa để về chùa Phước Lâm tu học. Từ đây cho đến năm 1975, công việc tái thiết các tự viện bị ngưng trệ. Một lần nữa, bom đạn chiến tranh đã phá hủy gần hết các công trình mới được xây dựng.

Hơn 40 năm trụ trì, Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa đã tổ chức nhiều lần trùng tu ba ngôi chùa: chùa Trung, chùa Phật và chùa Hang làm nơi tu học cho Tăng Ni, Phật tử và đón tiếp hàng vạn khách tham quan, chiêm bái hằng năm. Kiến trúc ba ngôi chùa hiện nay do Ni sư cho xây dựng từ năm 1992 đến năm 1997. Ni sư tiếp tục cho xây nhà Tổ, khu nhà Tăng, khu nhà Ni, khu nhà bổn đạo vào năm 2000. Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa đương nhiệm Phó Trưởng ban kiêm Ủy viên Tài chánh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tây Ninh.

Chùa Linh Sơn Tiên Thạch được khởi công xây dựng vào ngày 16 – 10 năm Bính Tý (26 – 11 – 1996) và lạc thành vào ngày 20 – 11 năm Đinh Sửu (19 – 12 – 1997). Chùa có diện tích 210 m2 (bề rộng 14m, bề dài 15m). Chùa mang nét kiến trúc kết hợp hài hòa nét đẹp của nhiều ngôi chùa cổ trong nước. Đặc biệt, chùa còn giữ hai cột đá xanh được tạc thời Tổ Tâm Hòa (1919) ở tiền đường, mỗi cột cao 4,5m, đuờng kính 0,45m, chạm hình rồng uốn lượn rất đẹp.

Ở sân chùa Phật có tôn trí tượng đài Bồ tát Quan Âm. Tiền đường thờ tượng Tiêu Diện. Tầng trên thờ Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền. Điện Phật thờ tượng đức Trung Tôn chính giữa (tư liệu của chùa cho biết tượng đức Bổn sư Thích Ca thiền định cao 2,5m) và chư Phật, Bồ tát: bộ tượng Di Đà Tam Tôn, đức Phật Thích Ca, tượng Đản sanh, Bồ tát Địa Tạng, Ngọc Hoàng... Hai bên có bàn thờ tượng Bồ tát Quan Âm và Bồ tát Thế Chí.

Trước điện Phật có tượng Tứ Thiên Vương: Ma Lễ Thọ, Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Thanh; tượng đức Hộ Pháp Vi Đà. Hai bên vách có bàn thờ Thập bát La Hán, Thập Điện Minh Vương, Mục Kiền Liên, Quan Thánh. Sau điện Phật, có bàn thờ Tổ sư Đạt Ma và các vị Tổ của chùa. Đặc biệt, ở điện Phật có tôn trí ngọc Xá lợi Phật, bảo vật do Hòa thượng Thích Hiển Pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được Vua Sãi Thái Lan tặng, và Hòa thượng đã cúng dường cho chùa vào năm 2000.

Chùa có khu bảo tháp Tổ. Giữa là tháp Tổ Tâm Hòa, Tổ Giác Phú, Tổ Giác Điền. Hai bên là tháp Tổ Trừng Tùng và Tổ Thanh Thọ.
Bên cạnh chùa là Điện Bà Linh Sơn. Kiến trúc điện gồm một mái đá tự nhiên nhô ra tạo thành động, vòm mái cao 2,5m, và gian nhà thờ nhân tạo phía trước dài 8m. Trong điện thờ Linh Sơn Thánh mẫu, Thần Tài, Thổ Địa. Ở đây có tủ đựng y trang của Bà do thập phương bá tánh dâng cúng. Gian ngoài thờ Bồ tát Quan Âm và Địa Mẫu.

Có nhiều truyền thuyết dân gian kể về Bà Đen như: Sự tích nàng Đênh, truyện Lý Thị Thiên Hương...

Theo Thạch Phương và Lê Trung Vũ trong sách 60 lễ hội truyền thống Việt Nam (NXB. KHXH, Hà Nội, 1995) thì nàng Đênh là con của viên quan Trấn thủ vùng núi Tây Ninh. Năm 13 tuổi, nàng được cha mẹ gửi cho một nhà sư người Hoa để học đạo. Đến tuổi cặp kê, có con trai viên Tri huyện Trảng Bàng ngỏ ý cầu hôn, nhưng nàng từ chối vì đã có ý nguyện xuất gia. Một đêm, nàng lẻn bỏ nhà ra đi lên núi, nhưng chẳng may bị cọp vồ. Hôm sau, đến khi gia nhân viên quan Trấn thủ đi tìm thì nàng đã bị cọp ăn thịt, chỉ còn sót lại một chân nằm ở nơi kẹt đá. Song thân nàng đã cho mai táng phần thi thể còn lại trên núi và cho xây miếu thờ. Người dân địa phương cho rằng nàng chết oan tất phải linh hiển nên thường đến miếu cúng bái, mong được nàng phù hộ.

Theo tài liệu Truyền thuyết về Bà Đen (Báo Tây Ninh xuất bản năm 1998) thì cô gái Lý Thị Thiên Hương vốn nhan sắc mặn mà ở huyện Quan Hóa (nay là huyện Trảng Bàng) đính hôn cùng Lê Sĩ Triệt, chàng trai văn võ song toàn. Giữa buổi loạn ly, chàng Lê Sĩ Triệt gác tình riêng lên đường tòng quân cứu nước. Thiên Hương, một hôm lên núi viếng chùa thì gặp bọn cường sơn thảo khấu chặn đường uy hiếp. Sức yếu thế cô, nàng đành phải nhào xuống vực sâu quyên sinh. Đêm ấy, nhà sư trụ trì ngôi chùa trên núi được nàng báo mộng. Hôm sau, ông xuống vực sâu tìm và đem xác nàng đi an táng. Nàng rất linh hiển, luôn phù độ cho nhân dân trong vùng được nhiều ân phước. Người dân lập điện thờ Bà trên núi, từ đó núi có tên là núi Bà Đen.

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, xưng hiệu là Gia Long, tưởng nhớ đến chuyện khi bôn tẩu khắp miền Nam, lúc đến núi được Bà mách bảo nên thoát nạn, liền sai Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Thành Gia Định, lên núi làm lễ sắc phong cho Bà danh hiệu Linh Sơn Thánh mẫu, đặt tên chùa Bà Linh Sơn Tiên Thạch Tự và tạc tượng Bà bằng đồng để nhân dân chiêm bái, phụng thờ. Săc phong đó về sau bị thất lạc. Đến đời Bảo Đại, vua tái sắc phong cho Bà.

Hằng năm, khách hành hương đến viếng chùa, miếu Bà rất đông vào tháng giêng và vào lễ vía Bà, ngày 5 và 6 tháng năm âm lịch. Từ năm 1983, tỉnh Tây Ninh đã thành lập Ban Tổ chức Hội Xuân Núi Bà và Ban quản lý Di tích lịch sử – văn hóa núi Bà Đen. Con đường từ thị xã Tây Ninh đến núi Bà dài 11km được trải nhựa, hệ thống lưới điện quốc gia đã nối mạng đến đỉnh núi, các cơ sở hạ tầng phục vụ khách hành hương được xây dựng hoàn chỉnh.

Đặc biệt, một hệ thống cáp treo đầu tiên ở Việt Nam đã được Công ty Du lịch Tây Ninh đưa vào hoạt động phục vụ du khách vào năm 1998, đi từ chân núi lên chùa Linh Sơn Tiên Thạch, đoạn đường dài 1225m, độ cao 225m, thời gian 18 phút/lượt. Hệ thống cáp treo, công nghệ Cộng hòa Áo do Trung Quốc sản xuất, tổng số 180 cabin (2 người lớn/cabin), 16 trụ tháp, công suất phục vụ 500 lượt khách/giờ. Hệ thống máng trượt, công nghệ của Đức do Trung Quốc sản xuất, cũng đã đưa vào hoạt động từ năm 2002. Hệ thống bao gồm hai tuyến khép kín: tuyến máng kéo 1.190m và tuyến máng trượt 1.700m, tốc độ tối đa 40km/g. Có hệ thống thắng tay, có hệ thống giảm chấn ở hai đầu xe trượt, có thắng tự động, có lưới bảo vệ, có dây đai an toàn.
Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Theo Vườn Hoa Phật Giáo
Núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất Nam Bộ với chiều cao 986m so với mực nước biển, núi Bà Đen là ngọn núi cao nhất Nam Bộ.
Chùa Linh Sơn Tiên Thạch (thường gọi là chùa Phật), chùa Thượng, chùa Bà, cùng với chùa Hang (chùa Linh Sơn Long Châu) và chùa Trung (chùa Linh Sơn Phước Trung) là những ngôi chùa nổi tiếng ở khu danh thắng núi Bà Đen.

Chùa Linh Sơn thường được gọi là chùa Bà hay chùa Bà Đen tọa lạc trên núi Bà Đen, thuộc ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Chùa do Thiền sư Đạo Trung – Thiện Hiếu thuộc chi phái Thiền Liễu Quán khai sơn vào giữa thế kỷ XVIII. Nguyễn Quyết Chiến trong bài Hệ thống tự viện núi Bà Đen trong tiến trình lịch sử (Báo Giác Ngộ ngày 22 – 02 – 1997) đã cho biết 11 đời trụ trì chùa như sau: Đạo Trung – Thiện Hiếu (1783 – 1806), Thanh Thanh (1806 – 1832), Hải Hiệp (1832 – 1857), Thanh Thọ – Phước Chí (1857 – 1878), Chơn Thoại – Trừng Tùng (1879– 1910), Chánh Khâm – Tâm Hòa (1910 – 1937), Nguyên Cơ – Giác Phú (1937), Nguyên Thần – Giác Hạnh (1937 – 1938), Giác Ngọc (1938 – 1951), khuyết trụ trì (1951 – 1957), Huệ Phương (1957 – 1962), Diệu Nghĩa (từ năm 1962 đến nay).

< Ảnh xưa.

Chùa đã được trùng tu nhiều lần. Năm Mậu Ngọ (1857), Tổ Phước Chí đã bỏ ngôi chùa cũ lợp lá, vách ván, tổ chức xây dựng ngôi chùa khang trang. Ngài đã vận động nhiều Phật tử góp công góp của mở rộng đường lên núi, xây dựng ngôi chánh điện và giảng đường. Cũng vào thời gian này, cách chùa khoảng 300m, một nhà sư người Chiêm Thành, tục gọi là ông Chàm và nhà sư Huệ Mạng – Kim Tiên lấy hang đá làm nơi tu hành. Khoảng năm 1864, sư Huệ Mạng khai sơn chùa Linh Sơn Long Châu.

Năm Nhâm Thân (1871), Tổ Phước Chí cho xây chùa Phước Lâm kế cận dòng sông chảy qua ấp Vĩnh Xuân để khách hành hương đi bằng đường thủy ghé chùa nghỉ ngơi trước khi lên núi. Đến đời Tổ Chơn Thoại, ngài thấy cần xây một trạm dừng tại chân núi, tạo thuận lợi cho khách hành hương, nên đã cho xây ngôi chùa Linh Sơn Phước Trung, thường gọi là chùa Trung.

Năm Canh Tuất (1910), Tổ Tâm Hòa nối tiếp trụ trì đã cho mở rộng ngôi chùa, xây dựng thêm nhà nghỉ cho khách hành hương, mở con đường rộng 6m, dài 1300m từ chùa Trung lên chùa Phật. Năm 1924, ngài cho xây nhà Tổ, Đông lang, Tây lang, nhà Trù bằng vật liệu chủ yếu là đá.

Năm 1927, ngài cho lấp hố Điện Bà (sâu 50m, rộng 70m), tương truyền là nơi Bà quyên sinh, để lấy lối lên chùa Phật. Đây là công trình lớn, ngài đã huy động hàng trăm thợ lao động suốt bốn năm mới hoàn thành. 27 năm trụ trì của Tổ Tâm Hòa là thời kỳ chùa được hưng thịnh về mặt hoằng dương đạo pháp cũng như cơ sở tự viện với hơn 100 Tăng Ni tu học, khách hành hương về chùa mỗi ngày một đông. Ngài viên tịch vào ngày 08 – 01 năm Đinh Sửu (1937).

Các đệ tử của Tổ Tâm Hòa là Giác Phú, Giác Hạnh, Giác Ngọc kế tục quản lý và phát triển hệ thống tự viện ở đây đến năm 1945. Từ năm 1945 đến năm 1956, quân Nhật rồi quân Pháp kéo lên chiếm đóng, phá hủy hoàn toàn hệ thống tự viện ở đây.

Năm 1956, ngài Nguyên Chất – Giác Điền, trụ trì chùa Phước Lâm tổ chức xây dựng lại hệ thống chùa ở núi Bà. Ngài cho tháo dỡ ngôi Thiền đường và một số căn nhà phụ của chùa chở lên núi cất chùa tạm để có nơi lễ bái của Tăng Ni và khách hành hương. Ngài cùng thầy Huệ Phương hết lòng chăm lo tôn tạo ngôi chùa Phật và chùa Hang. Năm 1957, ngài Giác Điền viên tịch, ngài Huệ Phương tiếp tục công việc đến năm 1962 thì giao nhiệm vụ trụ trì cho Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa để về chùa Phước Lâm tu học. Từ đây cho đến năm 1975, công việc tái thiết các tự viện bị ngưng trệ. Một lần nữa, bom đạn chiến tranh đã phá hủy gần hết các công trình mới được xây dựng.

Hơn 40 năm trụ trì, Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa đã tổ chức nhiều lần trùng tu ba ngôi chùa: chùa Trung, chùa Phật và chùa Hang làm nơi tu học cho Tăng Ni, Phật tử và đón tiếp hàng vạn khách tham quan, chiêm bái hằng năm. Kiến trúc ba ngôi chùa hiện nay do Ni sư cho xây dựng từ năm 1992 đến năm 1997. Ni sư tiếp tục cho xây nhà Tổ, khu nhà Tăng, khu nhà Ni, khu nhà bổn đạo vào năm 2000. Ni sư Thích Nữ Diệu Nghĩa đương nhiệm Phó Trưởng ban kiêm Ủy viên Tài chánh Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Tây Ninh.

Chùa Linh Sơn Tiên Thạch được khởi công xây dựng vào ngày 16 – 10 năm Bính Tý (26 – 11 – 1996) và lạc thành vào ngày 20 – 11 năm Đinh Sửu (19 – 12 – 1997). Chùa có diện tích 210 m2 (bề rộng 14m, bề dài 15m). Chùa mang nét kiến trúc kết hợp hài hòa nét đẹp của nhiều ngôi chùa cổ trong nước. Đặc biệt, chùa còn giữ hai cột đá xanh được tạc thời Tổ Tâm Hòa (1919) ở tiền đường, mỗi cột cao 4,5m, đuờng kính 0,45m, chạm hình rồng uốn lượn rất đẹp.

Ở sân chùa Phật có tôn trí tượng đài Bồ tát Quan Âm. Tiền đường thờ tượng Tiêu Diện. Tầng trên thờ Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Phổ Hiền. Điện Phật thờ tượng đức Trung Tôn chính giữa (tư liệu của chùa cho biết tượng đức Bổn sư Thích Ca thiền định cao 2,5m) và chư Phật, Bồ tát: bộ tượng Di Đà Tam Tôn, đức Phật Thích Ca, tượng Đản sanh, Bồ tát Địa Tạng, Ngọc Hoàng... Hai bên có bàn thờ tượng Bồ tát Quan Âm và Bồ tát Thế Chí.

Trước điện Phật có tượng Tứ Thiên Vương: Ma Lễ Thọ, Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Thanh; tượng đức Hộ Pháp Vi Đà. Hai bên vách có bàn thờ Thập bát La Hán, Thập Điện Minh Vương, Mục Kiền Liên, Quan Thánh. Sau điện Phật, có bàn thờ Tổ sư Đạt Ma và các vị Tổ của chùa. Đặc biệt, ở điện Phật có tôn trí ngọc Xá lợi Phật, bảo vật do Hòa thượng Thích Hiển Pháp, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, được Vua Sãi Thái Lan tặng, và Hòa thượng đã cúng dường cho chùa vào năm 2000.

Chùa có khu bảo tháp Tổ. Giữa là tháp Tổ Tâm Hòa, Tổ Giác Phú, Tổ Giác Điền. Hai bên là tháp Tổ Trừng Tùng và Tổ Thanh Thọ.
Bên cạnh chùa là Điện Bà Linh Sơn. Kiến trúc điện gồm một mái đá tự nhiên nhô ra tạo thành động, vòm mái cao 2,5m, và gian nhà thờ nhân tạo phía trước dài 8m. Trong điện thờ Linh Sơn Thánh mẫu, Thần Tài, Thổ Địa. Ở đây có tủ đựng y trang của Bà do thập phương bá tánh dâng cúng. Gian ngoài thờ Bồ tát Quan Âm và Địa Mẫu.

Có nhiều truyền thuyết dân gian kể về Bà Đen như: Sự tích nàng Đênh, truyện Lý Thị Thiên Hương...

Theo Thạch Phương và Lê Trung Vũ trong sách 60 lễ hội truyền thống Việt Nam (NXB. KHXH, Hà Nội, 1995) thì nàng Đênh là con của viên quan Trấn thủ vùng núi Tây Ninh. Năm 13 tuổi, nàng được cha mẹ gửi cho một nhà sư người Hoa để học đạo. Đến tuổi cặp kê, có con trai viên Tri huyện Trảng Bàng ngỏ ý cầu hôn, nhưng nàng từ chối vì đã có ý nguyện xuất gia. Một đêm, nàng lẻn bỏ nhà ra đi lên núi, nhưng chẳng may bị cọp vồ. Hôm sau, đến khi gia nhân viên quan Trấn thủ đi tìm thì nàng đã bị cọp ăn thịt, chỉ còn sót lại một chân nằm ở nơi kẹt đá. Song thân nàng đã cho mai táng phần thi thể còn lại trên núi và cho xây miếu thờ. Người dân địa phương cho rằng nàng chết oan tất phải linh hiển nên thường đến miếu cúng bái, mong được nàng phù hộ.

Theo tài liệu Truyền thuyết về Bà Đen (Báo Tây Ninh xuất bản năm 1998) thì cô gái Lý Thị Thiên Hương vốn nhan sắc mặn mà ở huyện Quan Hóa (nay là huyện Trảng Bàng) đính hôn cùng Lê Sĩ Triệt, chàng trai văn võ song toàn. Giữa buổi loạn ly, chàng Lê Sĩ Triệt gác tình riêng lên đường tòng quân cứu nước. Thiên Hương, một hôm lên núi viếng chùa thì gặp bọn cường sơn thảo khấu chặn đường uy hiếp. Sức yếu thế cô, nàng đành phải nhào xuống vực sâu quyên sinh. Đêm ấy, nhà sư trụ trì ngôi chùa trên núi được nàng báo mộng. Hôm sau, ông xuống vực sâu tìm và đem xác nàng đi an táng. Nàng rất linh hiển, luôn phù độ cho nhân dân trong vùng được nhiều ân phước. Người dân lập điện thờ Bà trên núi, từ đó núi có tên là núi Bà Đen.

Khi Nguyễn Ánh lên ngôi, xưng hiệu là Gia Long, tưởng nhớ đến chuyện khi bôn tẩu khắp miền Nam, lúc đến núi được Bà mách bảo nên thoát nạn, liền sai Tả quân Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Thành Gia Định, lên núi làm lễ sắc phong cho Bà danh hiệu Linh Sơn Thánh mẫu, đặt tên chùa Bà Linh Sơn Tiên Thạch Tự và tạc tượng Bà bằng đồng để nhân dân chiêm bái, phụng thờ. Săc phong đó về sau bị thất lạc. Đến đời Bảo Đại, vua tái sắc phong cho Bà.

Hằng năm, khách hành hương đến viếng chùa, miếu Bà rất đông vào tháng giêng và vào lễ vía Bà, ngày 5 và 6 tháng năm âm lịch. Từ năm 1983, tỉnh Tây Ninh đã thành lập Ban Tổ chức Hội Xuân Núi Bà và Ban quản lý Di tích lịch sử – văn hóa núi Bà Đen. Con đường từ thị xã Tây Ninh đến núi Bà dài 11km được trải nhựa, hệ thống lưới điện quốc gia đã nối mạng đến đỉnh núi, các cơ sở hạ tầng phục vụ khách hành hương được xây dựng hoàn chỉnh.

Đặc biệt, một hệ thống cáp treo đầu tiên ở Việt Nam đã được Công ty Du lịch Tây Ninh đưa vào hoạt động phục vụ du khách vào năm 1998, đi từ chân núi lên chùa Linh Sơn Tiên Thạch, đoạn đường dài 1225m, độ cao 225m, thời gian 18 phút/lượt. Hệ thống cáp treo, công nghệ Cộng hòa Áo do Trung Quốc sản xuất, tổng số 180 cabin (2 người lớn/cabin), 16 trụ tháp, công suất phục vụ 500 lượt khách/giờ. Hệ thống máng trượt, công nghệ của Đức do Trung Quốc sản xuất, cũng đã đưa vào hoạt động từ năm 2002. Hệ thống bao gồm hai tuyến khép kín: tuyến máng kéo 1.190m và tuyến máng trượt 1.700m, tốc độ tối đa 40km/g. Có hệ thống thắng tay, có hệ thống giảm chấn ở hai đầu xe trượt, có thắng tự động, có lưới bảo vệ, có dây đai an toàn.
Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Theo Vườn Hoa Phật Giáo

Khởi công dự án cáp treo Fansipan

Đỉnh Fansipan (Phan xi păng) với độ cao 3.143 mét có địa hình hiểm trở với những vách đá cheo leo đựng đứng, vực sâu hàng nghìn mét, khí hậu khắc nghiệt và sức gió mạnh quanh năm.

Fansipan - Nóc nhà Đông Dương là điểm đến hấp dẫn, nhưng tới nay chỉ có rất ít những du khách trẻ tuổi dám dấn thân vào hành trình mạo hiểm này.
Họ phải vượt những vách núi cao, rất nguy hiểm, phải ngủ lại đêm nơi lưng chừng núi, trong giá lạnh tê người, phải chặt cây rừng đốt sưởi, thậm chí đối mặt với rắn rết, côn trùng lạ, và ngày hôm sau lại tiếp tục hành trình khắc nghiệt.

< Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phát biểu tại lễ khởi công dự án cáp treo 3 dây Fansipan - Sapa.

Khi hệ thống cáp treo được xây dựng xong, hành trình 2 ngày đêm vất vả chinh phục Fansipan của du khách sẽ được rút xuống còn 15 phút, với vận tốc của cáp treo độc đáo này là 8m/s.

Cáp treo lên đỉnh Fansipan là hệ thống vận hành liên tục với độ dài toàn tuyến khoảng 7 km. Độ chênh tuyệt đối của ga đi và ga đến là 1.404m. Công suất vận chuyển tối đa 2.000 lượt khách mỗi giờ với những cabin như một chiếc xe buýt nhỏ, sức chứa tới 35 khách.

Đây cũng sẽ là hệ thống cáp treo 3 dây độc đáo, lần đầu tiên có tại châu Á, là hệ thống cáp treo 3 dây dài nhất, cao nhất và là một trong những cáp treo phức tạp nhất thế giới. Cáp treo lên Fansipan sẽ có điểm đầu tại tổ 11 (thuộc thị trấn Sapa), vượt qua thung lũng Mường Hoa kết nối với các điểm du lịch mới và lên đỉnh Fansipan ở cao độ 2.900-3.000m. Từ đây lên tới đỉnh cao nhất 3.143m không còn bao xa.

Cáp treo 3 dây Fansipan không cần đến hệ thống cứu hộ thông thường bởi trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong bất kỳ khí hậu, thời tiết khắc nghiệt đến thế nào, sức gió tại đỉnh núi có mạnh đến đâu, thì hệ thống cáp treo 3 dây này cũng sẽ đưa du khách xuống chân núi an toàn.

Song song với hệ thống cáp treo, quần thể dự án tại Fansipan sẽ bao gồm hệ thống khách sạn 4-5 sao, khu vui chơi giải trí, ẩm thực, một down town mới mang nét kiến trúc văn hóa Sa Pa  cổ và sân goft 18 lỗ, phục vụ nhu cầu giải trí cao cấp cho Lào Cai và Sa Pa. Đặc biệt, một khu du lịch tâm linh sẽ được xây dựng tại đây.

Lào Cai đang là một trong những tỉnh nghèo so với mặt bằng chung của Việt Nam. Hơn nữa, thiên tai, lũ quét, mưa đá thường xuyên khiến cuộc sống của đồng bào càng khó khăn.
Số lượng khách tới Lào Cai hiện vào khoảng 960.000 lượt, trong đó chưa đến một phần ba là khách quốc tế. Chủ đầu tư - Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Cáp treo Fansipan Sa Pa kỳ vọng kỳ vọng quần thể dự án xây dựng thành công sẽ góp phần thu hút lượng lớn khách du lịch đến Sa Pa lên tới hàng triệu lượt mỗi năm.

Tác dụng tiêu cực từ cáp treo khó trách khỏi nhưng tích cực thì vẫn có. Vậy nên người ta vẫn xây dựng cáp treo - và nếu bạn thích chinh phục đỉnh cao nhất Đông Dương bằng chính sức mình thì hoàn toàn có thể thực thi.

Đỉnh Fansipan (Phan xi păng) với độ cao 3.143 mét có địa hình hiểm trở với những vách đá cheo leo đựng đứng, vực sâu hàng nghìn mét, khí hậu khắc nghiệt và sức gió mạnh quanh năm.

Fansipan - Nóc nhà Đông Dương là điểm đến hấp dẫn, nhưng tới nay chỉ có rất ít những du khách trẻ tuổi dám dấn thân vào hành trình mạo hiểm này.
Họ phải vượt những vách núi cao, rất nguy hiểm, phải ngủ lại đêm nơi lưng chừng núi, trong giá lạnh tê người, phải chặt cây rừng đốt sưởi, thậm chí đối mặt với rắn rết, côn trùng lạ, và ngày hôm sau lại tiếp tục hành trình khắc nghiệt.

< Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải phát biểu tại lễ khởi công dự án cáp treo 3 dây Fansipan - Sapa.

Khi hệ thống cáp treo được xây dựng xong, hành trình 2 ngày đêm vất vả chinh phục Fansipan của du khách sẽ được rút xuống còn 15 phút, với vận tốc của cáp treo độc đáo này là 8m/s.

Cáp treo lên đỉnh Fansipan là hệ thống vận hành liên tục với độ dài toàn tuyến khoảng 7 km. Độ chênh tuyệt đối của ga đi và ga đến là 1.404m. Công suất vận chuyển tối đa 2.000 lượt khách mỗi giờ với những cabin như một chiếc xe buýt nhỏ, sức chứa tới 35 khách.

Đây cũng sẽ là hệ thống cáp treo 3 dây độc đáo, lần đầu tiên có tại châu Á, là hệ thống cáp treo 3 dây dài nhất, cao nhất và là một trong những cáp treo phức tạp nhất thế giới. Cáp treo lên Fansipan sẽ có điểm đầu tại tổ 11 (thuộc thị trấn Sapa), vượt qua thung lũng Mường Hoa kết nối với các điểm du lịch mới và lên đỉnh Fansipan ở cao độ 2.900-3.000m. Từ đây lên tới đỉnh cao nhất 3.143m không còn bao xa.

Cáp treo 3 dây Fansipan không cần đến hệ thống cứu hộ thông thường bởi trong bất cứ hoàn cảnh nào, trong bất kỳ khí hậu, thời tiết khắc nghiệt đến thế nào, sức gió tại đỉnh núi có mạnh đến đâu, thì hệ thống cáp treo 3 dây này cũng sẽ đưa du khách xuống chân núi an toàn.

Song song với hệ thống cáp treo, quần thể dự án tại Fansipan sẽ bao gồm hệ thống khách sạn 4-5 sao, khu vui chơi giải trí, ẩm thực, một down town mới mang nét kiến trúc văn hóa Sa Pa  cổ và sân goft 18 lỗ, phục vụ nhu cầu giải trí cao cấp cho Lào Cai và Sa Pa. Đặc biệt, một khu du lịch tâm linh sẽ được xây dựng tại đây.

Lào Cai đang là một trong những tỉnh nghèo so với mặt bằng chung của Việt Nam. Hơn nữa, thiên tai, lũ quét, mưa đá thường xuyên khiến cuộc sống của đồng bào càng khó khăn.
Số lượng khách tới Lào Cai hiện vào khoảng 960.000 lượt, trong đó chưa đến một phần ba là khách quốc tế. Chủ đầu tư - Công ty TNHH Dịch vụ Du lịch Cáp treo Fansipan Sa Pa kỳ vọng kỳ vọng quần thể dự án xây dựng thành công sẽ góp phần thu hút lượng lớn khách du lịch đến Sa Pa lên tới hàng triệu lượt mỗi năm.

Tác dụng tiêu cực từ cáp treo khó trách khỏi nhưng tích cực thì vẫn có. Vậy nên người ta vẫn xây dựng cáp treo - và nếu bạn thích chinh phục đỉnh cao nhất Đông Dương bằng chính sức mình thì hoàn toàn có thể thực thi.

Chóp Chài, chùa Hang và Trại Cháy.

Núi Chóp Chài cao 391 mét nổi lên giữa đồng bằng thuộc khu vực phường 9, xã Bình Kiến, ngoại ô thành phố Tuy Hòa; cách trung tâm thành phố khoảng 4km về phía Tây Bắc. Vị trí núi nằm ở đoạn km 3 + 100 trên QL1A với chu vi quanh chân núi 10km.

Núi có hình dáng khá vuông vắn trông tựa như một kim tự tháp khổng lồ. Đứng trên đỉnh núi sẽ có được tầm nhìn bao quát tới bãi biển và trọn vẹn vùng đồng bằng dưới chân núi. Trên núi có hang Dơi (hay Trai Thuỷ) rộng 5m và rất sâu. Lưng sườn núi có các công trình kiến trúc Phật giáo như chùa Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm.

Đây là ngọn núi trẻ, căn cứ theo cấu tạo địa chất so với toàn vùng, không có liên hệ gì với dãy Trường Sơn.
Là hòn núi độc lập theo cấu tạo địa chất cách đây hàng triệu năm và cũng là một trong những cù lao, đá ngầm nhỏ (gồm Chóp Chài, núi Nhạn, núi Miếu…) giữa biển, sau này do những chấn động địa chất và phù sa bồi lắng dần tạo thành đồng bằng Tuy Hoà.

Tại những khu vực quanh núi Chóp Chài, gành Đá, nông dân đào ao vét giếng thỉnh thoảng lại tìm thấy những mỏ neo, những đoạn dây thừng dùng cho thuyền đi biển cùng vô số những vỏ sò ốc…

Đứng trên độ cao, từ xa trông về hướng núi thì Chóp Chài tựa như một chiếc chài đang khởi vãi trên mặt hồ rộng, vì vậy nên nó có tên chữ là Nựu Sơn (núi như cái nút nhỏ). Còn căn cứ vào hình dáng và thế núi thì nó còn có tên khác là Qui Sơn, bởi khi nhìn gần núi trông giống một con rùa đang thò cổ ra bò trên mặt đồng rộng, mà đầu quay ra quốc lộ. Do đó, Chóp Chài còn có tên gọi trong dân gian là hòn Cổ Rùa.

Dưới con mắt của các nhà phong thuỷ học thì sông Đà Rằng (gồm cả sông Ba ở thượng nguồn) là con rồng uốn khúc, đầu ở thượng nguồn, đuôi vắt ngang qua làng Phước Hậu để giao nhau với núi Chóp Chài như con rùa khổng lồ vươn mình ra biển Đông.

Chính thế đất Long Qui giao hoà nên nhiều người nghĩ rằng Phú Yên là nơi phát sinh ra lắm nhân tài, là vùng địa linh nhân kiệt. Vì vậy, trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện, khi Pháp mở con đường QL1A và đường sắt xuyên Việt đã chặt đứt cổ rùa như một cách “yếm” nhân tài đất Việt một cách công khai.

Cách đây trên nửa thế kỷ, Chóp Chài được che phủ bởi nhiều tầng cây cổ thụ, dây leo và nhiều chim thú, là một trong số hiếm hoi sân chim ở Phú Yên mà nhiều nhất là các loại cò, cuốc, sáo, cu cườm… vì môi trường sống của chúng thích nghi với vùng đồng nước của cánh đồng lúa Tuy Hoà. Núi Chóp Chài còn có các loài thú móng guốc như hươu, mển, heo rừng, khỉ… Nhưng cư dân ngày mỗi đông đúc thêm lên, nên cây rừng dần biến mất, kéo theo sự mất dạng của các loài chim thú bởi môi trường sinh sống của chúng bị xâm hại nên đã bỏ đi nơi khác.

Do ảnh hưởng về mặt tâm linh xuất phát từ việc coi trọng phong thủy cho nên quanh núi Chóp Chài có đến 4 ngôi chùa. Đó là các chùa Bửu Lâm và Hồ Sơn ở thôn Phú Vang, Khánh Sơn và Minh Sơn ở thôn Minh Đức, đều là những ngôi chùa danh tiếng của Phú Yên. Ở mạn sườn núi phía tây, gần đỉnh lại có chùa Hang.

Gọi là chùa, nhưng không theo lối kiến trúc thông thường vách xây mái lợp, mà được thiên nhiên cấu tạo sẵn, gồm những tảng đá to dựng thẳng đứng tạo thành vách và mái che rất kín đáo; phía ngoài cửa vào chùa có hai tảng đá nhoài ra với mái che bằng phẳng như một hành lang trước khi bước vào chánh điện. Tại nơi này vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, thiền sư Pháp Tạng, một nhánh của phái Thiền Lâm Tế đến ẩn tu và đắc đạo. Sau này các vị sư trụ trì kế thừa nghiệp tổ gọi chùa này là chùa Tổ, còn dân gian vẫn gọi là chùa Hang.

Trong những ngày đầu xuân, ngày rằm tháng Tư, rằm tháng Bảy các tín đồ Phật giáo và các du khách thập phương thường đến những chùa này để dâng hương lễ Phật và thưởng ngoạn cảnh đẹp. Khi đứng trên lưng chừng núi, giữa sân chùa tĩnh lặng nghe gió núi thổi rì rào quanh những tán lá cây rừng, mang theo tiếng chuông chùa ngân nga thanh sạch tĩnh mịch khiến tâm hồn như thoát ra khỏi những vướng bận ngày thường.

Trên lưng chừng núi trước cổng tam quan hay sân chùa nhìn xuống phía dưới là cánh đồng lúa chín vàng ruộm màu mật ong, là những con sông uốn khúc lượn lờ trôi, là biển cả mênh mông… gần trong tầm mắt là thành phố nằm khép giữa hai bờ sông Đà Rằng, sông Chùa, với núi Nhạn nhô cao xanh thẳm khiến ta có cảm tưởng như những ồn ào, bươn bả của đời thường cũng vụt rớt xuống lòng đường phố, chỉ còn lại tiếng kinh cầu thoát tục.

Chóp Chài cũng là tiêu điểm cho những dự đoán trước chuyện nắng mưa của đất trời:

Chóp Chài đội mũ
Mây phủ Đá Bia
Ếch nhái kêu lia
Trời mưa như đổ.

Hay:

Lập loè trời chớp Vũng Rô
Mây che hòn Yến, gió vô Chóp Chài.

Rồi trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Nhật Tĩnh đã mượn hình ảnh ngọn núi Chóp Chài để làm bia ghi công chiến sĩ đã xả thân vì nền độc lập dân tộc:

Mai sau mượn ngọn Chóp Chài
Làm bia chiến sĩ cho người xa trông.

Núi Chóp Chài cũng đã để lại nhiều chuyện truyền thuyết chung quanh việc tranh giành quyền bính giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.

Chuyện Nguyễn Ánh trú quân trong chùa Hang kể lại như sau:

Sau khi quân nhà Nguyễn bị Tây Sơn đuổi đánh tan tành ở bên này đèo Cù Mông, phải chạy ra đầm và xảy ra trận huyết chiến tại hòn Nần. Quân nhà Nguyễn phải tháo chạy vào Gành Đỏ, men theo sông Cái (Tuy An) chạy vào Chóp Chài và cho tàn quân trú lánh trong chùa Hang. Quân Tây Sơn vây lùng nhiều ngày không tìm thấy tung tích nên quay ra phía dòng sông Đà Rằng đi ngược lên thượng nguồn truy đuổi. Quân Nguyễn Ánh men theo núi lên Phú Cốc vượt qua Lỗ Chài (Hoà Quang) rồi chạy lên làng Lương Sơn đóng trại.

Do quân Tây Sơn được Bà Hoả (đội dũng binh người dân tộc thiểu số) tiếp trợ và phát hiện đám tàn quân Nguyễn Ánh chạy về phía đó nên kéo đại binh đuổi theo đến làng Lương Sơn thì quân Nguyễn Ánh đã vượt núi băng rừng chạy về phương Nam. Tây Sơn cho đốt doanh trại của nhà Nguyễn tại Lương Sơn, nên từ đó khu vực này còn có tên là Trại Cháy.

Trong thời gian trốn lánh trong chùa Hang, đám tàn quân nhà Nguyễn được nhà sư trụ trì che giấu, cung cấp lương thực, nước uống sống qua ngày. Nhớ ơn xưa, sau khi lên ngôi, vua Gia Long có sắc phong cho chùa nhưng thời gian và chiến tranh kéo dài, những sắc phong này đã bị thất lạc không còn nữa.
Ngày nay, núi Chóp Chài cùng với sông Ba là những biểu tượng quen thuộc về Phú Yên.

Bí ẩn 'ngọn núi Thiên Lôi' ở Phú Yên
Tuy Hòa sẽ là địa chỉ "phượt" của bạn?

Theo báo Phú Yên
Núi Chóp Chài cao 391 mét nổi lên giữa đồng bằng thuộc khu vực phường 9, xã Bình Kiến, ngoại ô thành phố Tuy Hòa; cách trung tâm thành phố khoảng 4km về phía Tây Bắc. Vị trí núi nằm ở đoạn km 3 + 100 trên QL1A với chu vi quanh chân núi 10km.

Núi có hình dáng khá vuông vắn trông tựa như một kim tự tháp khổng lồ. Đứng trên đỉnh núi sẽ có được tầm nhìn bao quát tới bãi biển và trọn vẹn vùng đồng bằng dưới chân núi. Trên núi có hang Dơi (hay Trai Thuỷ) rộng 5m và rất sâu. Lưng sườn núi có các công trình kiến trúc Phật giáo như chùa Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm.

Đây là ngọn núi trẻ, căn cứ theo cấu tạo địa chất so với toàn vùng, không có liên hệ gì với dãy Trường Sơn.
Là hòn núi độc lập theo cấu tạo địa chất cách đây hàng triệu năm và cũng là một trong những cù lao, đá ngầm nhỏ (gồm Chóp Chài, núi Nhạn, núi Miếu…) giữa biển, sau này do những chấn động địa chất và phù sa bồi lắng dần tạo thành đồng bằng Tuy Hoà.

Tại những khu vực quanh núi Chóp Chài, gành Đá, nông dân đào ao vét giếng thỉnh thoảng lại tìm thấy những mỏ neo, những đoạn dây thừng dùng cho thuyền đi biển cùng vô số những vỏ sò ốc…

Đứng trên độ cao, từ xa trông về hướng núi thì Chóp Chài tựa như một chiếc chài đang khởi vãi trên mặt hồ rộng, vì vậy nên nó có tên chữ là Nựu Sơn (núi như cái nút nhỏ). Còn căn cứ vào hình dáng và thế núi thì nó còn có tên khác là Qui Sơn, bởi khi nhìn gần núi trông giống một con rùa đang thò cổ ra bò trên mặt đồng rộng, mà đầu quay ra quốc lộ. Do đó, Chóp Chài còn có tên gọi trong dân gian là hòn Cổ Rùa.

Dưới con mắt của các nhà phong thuỷ học thì sông Đà Rằng (gồm cả sông Ba ở thượng nguồn) là con rồng uốn khúc, đầu ở thượng nguồn, đuôi vắt ngang qua làng Phước Hậu để giao nhau với núi Chóp Chài như con rùa khổng lồ vươn mình ra biển Đông.

Chính thế đất Long Qui giao hoà nên nhiều người nghĩ rằng Phú Yên là nơi phát sinh ra lắm nhân tài, là vùng địa linh nhân kiệt. Vì vậy, trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện, khi Pháp mở con đường QL1A và đường sắt xuyên Việt đã chặt đứt cổ rùa như một cách “yếm” nhân tài đất Việt một cách công khai.

Cách đây trên nửa thế kỷ, Chóp Chài được che phủ bởi nhiều tầng cây cổ thụ, dây leo và nhiều chim thú, là một trong số hiếm hoi sân chim ở Phú Yên mà nhiều nhất là các loại cò, cuốc, sáo, cu cườm… vì môi trường sống của chúng thích nghi với vùng đồng nước của cánh đồng lúa Tuy Hoà. Núi Chóp Chài còn có các loài thú móng guốc như hươu, mển, heo rừng, khỉ… Nhưng cư dân ngày mỗi đông đúc thêm lên, nên cây rừng dần biến mất, kéo theo sự mất dạng của các loài chim thú bởi môi trường sinh sống của chúng bị xâm hại nên đã bỏ đi nơi khác.

Do ảnh hưởng về mặt tâm linh xuất phát từ việc coi trọng phong thủy cho nên quanh núi Chóp Chài có đến 4 ngôi chùa. Đó là các chùa Bửu Lâm và Hồ Sơn ở thôn Phú Vang, Khánh Sơn và Minh Sơn ở thôn Minh Đức, đều là những ngôi chùa danh tiếng của Phú Yên. Ở mạn sườn núi phía tây, gần đỉnh lại có chùa Hang.

Gọi là chùa, nhưng không theo lối kiến trúc thông thường vách xây mái lợp, mà được thiên nhiên cấu tạo sẵn, gồm những tảng đá to dựng thẳng đứng tạo thành vách và mái che rất kín đáo; phía ngoài cửa vào chùa có hai tảng đá nhoài ra với mái che bằng phẳng như một hành lang trước khi bước vào chánh điện. Tại nơi này vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, thiền sư Pháp Tạng, một nhánh của phái Thiền Lâm Tế đến ẩn tu và đắc đạo. Sau này các vị sư trụ trì kế thừa nghiệp tổ gọi chùa này là chùa Tổ, còn dân gian vẫn gọi là chùa Hang.

Trong những ngày đầu xuân, ngày rằm tháng Tư, rằm tháng Bảy các tín đồ Phật giáo và các du khách thập phương thường đến những chùa này để dâng hương lễ Phật và thưởng ngoạn cảnh đẹp. Khi đứng trên lưng chừng núi, giữa sân chùa tĩnh lặng nghe gió núi thổi rì rào quanh những tán lá cây rừng, mang theo tiếng chuông chùa ngân nga thanh sạch tĩnh mịch khiến tâm hồn như thoát ra khỏi những vướng bận ngày thường.

Trên lưng chừng núi trước cổng tam quan hay sân chùa nhìn xuống phía dưới là cánh đồng lúa chín vàng ruộm màu mật ong, là những con sông uốn khúc lượn lờ trôi, là biển cả mênh mông… gần trong tầm mắt là thành phố nằm khép giữa hai bờ sông Đà Rằng, sông Chùa, với núi Nhạn nhô cao xanh thẳm khiến ta có cảm tưởng như những ồn ào, bươn bả của đời thường cũng vụt rớt xuống lòng đường phố, chỉ còn lại tiếng kinh cầu thoát tục.

Chóp Chài cũng là tiêu điểm cho những dự đoán trước chuyện nắng mưa của đất trời:

Chóp Chài đội mũ
Mây phủ Đá Bia
Ếch nhái kêu lia
Trời mưa như đổ.

Hay:

Lập loè trời chớp Vũng Rô
Mây che hòn Yến, gió vô Chóp Chài.

Rồi trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhà thơ Nhật Tĩnh đã mượn hình ảnh ngọn núi Chóp Chài để làm bia ghi công chiến sĩ đã xả thân vì nền độc lập dân tộc:

Mai sau mượn ngọn Chóp Chài
Làm bia chiến sĩ cho người xa trông.

Núi Chóp Chài cũng đã để lại nhiều chuyện truyền thuyết chung quanh việc tranh giành quyền bính giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn.

Chuyện Nguyễn Ánh trú quân trong chùa Hang kể lại như sau:

Sau khi quân nhà Nguyễn bị Tây Sơn đuổi đánh tan tành ở bên này đèo Cù Mông, phải chạy ra đầm và xảy ra trận huyết chiến tại hòn Nần. Quân nhà Nguyễn phải tháo chạy vào Gành Đỏ, men theo sông Cái (Tuy An) chạy vào Chóp Chài và cho tàn quân trú lánh trong chùa Hang. Quân Tây Sơn vây lùng nhiều ngày không tìm thấy tung tích nên quay ra phía dòng sông Đà Rằng đi ngược lên thượng nguồn truy đuổi. Quân Nguyễn Ánh men theo núi lên Phú Cốc vượt qua Lỗ Chài (Hoà Quang) rồi chạy lên làng Lương Sơn đóng trại.

Do quân Tây Sơn được Bà Hoả (đội dũng binh người dân tộc thiểu số) tiếp trợ và phát hiện đám tàn quân Nguyễn Ánh chạy về phía đó nên kéo đại binh đuổi theo đến làng Lương Sơn thì quân Nguyễn Ánh đã vượt núi băng rừng chạy về phương Nam. Tây Sơn cho đốt doanh trại của nhà Nguyễn tại Lương Sơn, nên từ đó khu vực này còn có tên là Trại Cháy.

Trong thời gian trốn lánh trong chùa Hang, đám tàn quân nhà Nguyễn được nhà sư trụ trì che giấu, cung cấp lương thực, nước uống sống qua ngày. Nhớ ơn xưa, sau khi lên ngôi, vua Gia Long có sắc phong cho chùa nhưng thời gian và chiến tranh kéo dài, những sắc phong này đã bị thất lạc không còn nữa.
Ngày nay, núi Chóp Chài cùng với sông Ba là những biểu tượng quen thuộc về Phú Yên.

Bí ẩn 'ngọn núi Thiên Lôi' ở Phú Yên
Tuy Hòa sẽ là địa chỉ "phượt" của bạn?

Theo báo Phú Yên

Hòa Sơn Tự trên núi Trà Sư

Núi Trà Sư (thuộc khóm Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) có tên chữ hiếm người biết, đó là Kỳ Lân Sơn. Núi tuy chỉ cao 146 mét nhưng có nhiều chùa chiền, am, miếu…, đồng thời cũng là nơi thường diễn ra những sinh hoạt tâm linh huyền bí. Lúc nào núi Trà Sư cũng có đông đảo khách thập phương thượng sơn cúng bái.

Theo sách Thất Sơn mầu nhiệm của Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu thì một nhà khảo cổ ngoại quốc cho rằng dãy núi Thất Sơn gồm núi Két, núi Bà Đội Om, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng, núi Tô và núi Trà Sư; nhưng theo ông Lương văn Phụng (tục gọi Chín Tròn ở thôn Vĩnh Thạnh Trung, Châu Đốc) thì núi Trà Sư không nằm trong nhóm Thất Sơn mà thay vào đó là Thủy Đài Sơn.

Núi Trà Sư không cao, nhưng du khách tham quan không chỉ để ngắm cảnh thiên nhiên kỳ thú mà còn tìm đến hành hương vùng đất thiêng, tìm kiếm sự bình an tâm hồn.

Đối diện Cửu Trùng Đài trên quốc lộ 91 là con đường ngắn nhất lên núi Trà Sư. Đó là một con dốc nhỏ hẹp, đi qua một cửa hàng dược liệu bán thuốc núi 'Sáu Xứng và Năm My'. Trước đây, con dốc có nhiều hòn đá nằm "ngăn" lối đi, khách phải khó nhọc đặt chân bước. Ngày nay, con dốc đã được tráng xi măng khá phẳng phiu, lại có hàng lan can vừa giúp khách nâng bước dễ dàng vừa đảm bảo an toàn cho khách. Bước 70 bậc cấp là khách đến khu vực chùa Tây Hưng. Đáng chú ý là lên 70 bậc cấp nữa, khách gặp ngôi Hòa Sơn Tự nằm bên trái con dốc.

Hòa Sơn Tự do Sư cô Thích Nữ Như Nhã trụ trì từ năm 2008. Ngôi chùa nhỏ nhưng khang trang, sạch sẽ với những viên gạch men lót nền, tường sáng ngời, với tượng thờ chính là Phật Quan Âm một tay bắt ấn, tay kia cầm bầu nước cam lồ rưới xuống trần gian. Sau tượng Phật Bà trong tư thế đứng, che đầu bằng chiếc lá sen là bức bích họa Phật Thích Ca tham thiền.

Sư cô Như Nhã không biết chùa có từ năm nào, chỉ biết trước đây nó là ngôi chùa bằng tre lá, về sau được xây gạch. Về trụ trì, Sư cô Như Nhã bắt tay vào vài việc tốt đẹp cho chùa. Đầu tiên là vận động bà con phật tử gần xa đóng góp tiền, vật liệu để Sư cô bắt tay làm đường trên núi khang trang, an toàn. Không chỉ làm đường từ dưới đất lên chùa, Sư cô và một số phật tử làm công quả còn hoàn thành các con đường trên núi. Có một con đường vòng, khách đi ngả nào cũng đến điện Huỳnh Long, qua Sân Tiên, Điện Quan Âm, Hang Hổ...

Tại chùa Hòa Sơn, ngay con dốc, khách thập phương ai cũng nhìn thấy tấm bảng màu lam ghi mấy chữ sơn đỏ: "Cơm – bún/Từ thiện/Chùa Hòa Sơn". Trong chùa, có tấm bảng sơn màu lam, chữ đỏ: "Thực đơn: cơm, bánh ướt, bún bì, bún nước lèo, bánh tằm bì". Tất nhiên đều là đồ chay.

Các bữa ăn từ thiện này đều được thực hiện từ khi Sư cô Như Nhã về đây trụ trì. Khách đến, ai cũng được Sư cô nhiệt tình mời dùng. Đáng quan tâm là anh Phạm Đạt Duy, 39 tuổi, là người phụ trách bếp từ nhiều năm nay cho chùa. Anh lúc nào cũng có nụ cười trên môi và câu nói "khích lệ": "Ăn no thôi. Đừng lo". Hằng ngày, từ 6 giờ sáng, anh Duy lên chùa bắt tay củi lửa, bưng dọn thức ăn cho khách một cách nhiệt tình. 6 giờ chiều, vãn khách, anh xuống núi, về nhà.

Dùng cơm chay no bụng, khách thong thả lên dốc, khám phá vài "bí ẩn" của núi Trà Sư. Đầu tiên là Hòn Đá Lăn - tảng đá núi to lớn nằm choán một góc miếu thờ Bà Chúa Sơn Lâm. Ông Lê Văn Xom, 56 tuổi, người lo nhang đèn miếu, cho biết: ngày 25-7-1991, có hai hòn đá, một hòn nặng khoảng 1 tấn, một hòn chừng 300kg, lăn từ đỉnh núi xuống nằm ngay góc miếu. Người ta sơn nhũ vàng hai hòn đá, tôn thờ "Chư Vị Sơn Thần", rồi xây miếu khác cạnh miễu Sơn Thần, thờ Cửu Thiên Huyền Nữ.

Từ Hòn Đá Lăn có hai ngã lên điện Huỳnh Long. Một ngã dốc cao, khúc khuỷu, ngã còn lại đường không dốc mấy, ngang qua một quán võng bằng tre lá khá đẹp mắt rồi lên dốc cao ngắn. Điện Huỳnh Long nằm trên cao ở một vồ đá, đường lên khúc khuỷu, bậc đá có tay vịn chắc chắn, tạo cảnh quan đẹp. Điện Huỳnh Long là một cái hang, nơi xưa kia đức Huỳnh Giáo chủ ở, trị bệnh cho bá gia, bá tánh. Hiện nay trong điện có một hang hẹp, thấp, có đặt cái chõng tre, mền gối cùng bức chân dung Đức Thầy sát tường vách núi.

Vào sâu có một hang khá rộng nhưng thấp. Vách hang là bàn thờ, thờ tượng Phật Bà, cùng chân dung Phật Thầy Huỳnh Phú Sổ và Anh hùng Nguyễn Trung Trực. Lên cao hơn, nơi đỉnh núi là Sân Tiên, rộng khoảng 500m2, có một tảng đá khổng lồ nằm sừng sững giữa trời xanh. Cạnh Sân Tiên có miếu thờ Chánh Soái, Trăm Quan Cựu Thần, Cửu Huyền, Thánh Mẫu. Còn có Bàn Chân Tiên trên tảng đá cao khoảng 12m. Từ đỉnh cao núi Trà Sư, khách nhìn thấy toàn cảnh núi Két, núi Dài Năm Giếng, kinh Vĩnh Tế nổi tiếng – một vùng phong cảnh hữu tình, đẹp như tranh thủy mặc.

Núi Trà Sư dù không to lớn như núi Cấm nhưng cũng là một cảnh đẹp, thu hút nhiều khách hành hương. Nhận thấy ưu điểm đó, UBND huyện Tịnh Biên đang quy hoạch xây dựng khu du lịch núi Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng với diện tích trên 9ha, với các dịch vụ vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, tổng vốn đầu tư gần 99 tỉ đồng. Dự án khi hoàn thành đưa vào khai thác sẽ nâng cao giá trị vùng núi này thành một trọng điểm du lịch tâm linh.

Theo Cúc Tần (báo Cần Thơ) + internet
Núi Trà Sư (thuộc khóm Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) có tên chữ hiếm người biết, đó là Kỳ Lân Sơn. Núi tuy chỉ cao 146 mét nhưng có nhiều chùa chiền, am, miếu…, đồng thời cũng là nơi thường diễn ra những sinh hoạt tâm linh huyền bí. Lúc nào núi Trà Sư cũng có đông đảo khách thập phương thượng sơn cúng bái.

Theo sách Thất Sơn mầu nhiệm của Dật Sĩ và Nguyễn Văn Hầu thì một nhà khảo cổ ngoại quốc cho rằng dãy núi Thất Sơn gồm núi Két, núi Bà Đội Om, núi Cấm, núi Dài, núi Tượng, núi Tô và núi Trà Sư; nhưng theo ông Lương văn Phụng (tục gọi Chín Tròn ở thôn Vĩnh Thạnh Trung, Châu Đốc) thì núi Trà Sư không nằm trong nhóm Thất Sơn mà thay vào đó là Thủy Đài Sơn.

Núi Trà Sư không cao, nhưng du khách tham quan không chỉ để ngắm cảnh thiên nhiên kỳ thú mà còn tìm đến hành hương vùng đất thiêng, tìm kiếm sự bình an tâm hồn.

Đối diện Cửu Trùng Đài trên quốc lộ 91 là con đường ngắn nhất lên núi Trà Sư. Đó là một con dốc nhỏ hẹp, đi qua một cửa hàng dược liệu bán thuốc núi 'Sáu Xứng và Năm My'. Trước đây, con dốc có nhiều hòn đá nằm "ngăn" lối đi, khách phải khó nhọc đặt chân bước. Ngày nay, con dốc đã được tráng xi măng khá phẳng phiu, lại có hàng lan can vừa giúp khách nâng bước dễ dàng vừa đảm bảo an toàn cho khách. Bước 70 bậc cấp là khách đến khu vực chùa Tây Hưng. Đáng chú ý là lên 70 bậc cấp nữa, khách gặp ngôi Hòa Sơn Tự nằm bên trái con dốc.

Hòa Sơn Tự do Sư cô Thích Nữ Như Nhã trụ trì từ năm 2008. Ngôi chùa nhỏ nhưng khang trang, sạch sẽ với những viên gạch men lót nền, tường sáng ngời, với tượng thờ chính là Phật Quan Âm một tay bắt ấn, tay kia cầm bầu nước cam lồ rưới xuống trần gian. Sau tượng Phật Bà trong tư thế đứng, che đầu bằng chiếc lá sen là bức bích họa Phật Thích Ca tham thiền.

Sư cô Như Nhã không biết chùa có từ năm nào, chỉ biết trước đây nó là ngôi chùa bằng tre lá, về sau được xây gạch. Về trụ trì, Sư cô Như Nhã bắt tay vào vài việc tốt đẹp cho chùa. Đầu tiên là vận động bà con phật tử gần xa đóng góp tiền, vật liệu để Sư cô bắt tay làm đường trên núi khang trang, an toàn. Không chỉ làm đường từ dưới đất lên chùa, Sư cô và một số phật tử làm công quả còn hoàn thành các con đường trên núi. Có một con đường vòng, khách đi ngả nào cũng đến điện Huỳnh Long, qua Sân Tiên, Điện Quan Âm, Hang Hổ...

Tại chùa Hòa Sơn, ngay con dốc, khách thập phương ai cũng nhìn thấy tấm bảng màu lam ghi mấy chữ sơn đỏ: "Cơm – bún/Từ thiện/Chùa Hòa Sơn". Trong chùa, có tấm bảng sơn màu lam, chữ đỏ: "Thực đơn: cơm, bánh ướt, bún bì, bún nước lèo, bánh tằm bì". Tất nhiên đều là đồ chay.

Các bữa ăn từ thiện này đều được thực hiện từ khi Sư cô Như Nhã về đây trụ trì. Khách đến, ai cũng được Sư cô nhiệt tình mời dùng. Đáng quan tâm là anh Phạm Đạt Duy, 39 tuổi, là người phụ trách bếp từ nhiều năm nay cho chùa. Anh lúc nào cũng có nụ cười trên môi và câu nói "khích lệ": "Ăn no thôi. Đừng lo". Hằng ngày, từ 6 giờ sáng, anh Duy lên chùa bắt tay củi lửa, bưng dọn thức ăn cho khách một cách nhiệt tình. 6 giờ chiều, vãn khách, anh xuống núi, về nhà.

Dùng cơm chay no bụng, khách thong thả lên dốc, khám phá vài "bí ẩn" của núi Trà Sư. Đầu tiên là Hòn Đá Lăn - tảng đá núi to lớn nằm choán một góc miếu thờ Bà Chúa Sơn Lâm. Ông Lê Văn Xom, 56 tuổi, người lo nhang đèn miếu, cho biết: ngày 25-7-1991, có hai hòn đá, một hòn nặng khoảng 1 tấn, một hòn chừng 300kg, lăn từ đỉnh núi xuống nằm ngay góc miếu. Người ta sơn nhũ vàng hai hòn đá, tôn thờ "Chư Vị Sơn Thần", rồi xây miếu khác cạnh miễu Sơn Thần, thờ Cửu Thiên Huyền Nữ.

Từ Hòn Đá Lăn có hai ngã lên điện Huỳnh Long. Một ngã dốc cao, khúc khuỷu, ngã còn lại đường không dốc mấy, ngang qua một quán võng bằng tre lá khá đẹp mắt rồi lên dốc cao ngắn. Điện Huỳnh Long nằm trên cao ở một vồ đá, đường lên khúc khuỷu, bậc đá có tay vịn chắc chắn, tạo cảnh quan đẹp. Điện Huỳnh Long là một cái hang, nơi xưa kia đức Huỳnh Giáo chủ ở, trị bệnh cho bá gia, bá tánh. Hiện nay trong điện có một hang hẹp, thấp, có đặt cái chõng tre, mền gối cùng bức chân dung Đức Thầy sát tường vách núi.

Vào sâu có một hang khá rộng nhưng thấp. Vách hang là bàn thờ, thờ tượng Phật Bà, cùng chân dung Phật Thầy Huỳnh Phú Sổ và Anh hùng Nguyễn Trung Trực. Lên cao hơn, nơi đỉnh núi là Sân Tiên, rộng khoảng 500m2, có một tảng đá khổng lồ nằm sừng sững giữa trời xanh. Cạnh Sân Tiên có miếu thờ Chánh Soái, Trăm Quan Cựu Thần, Cửu Huyền, Thánh Mẫu. Còn có Bàn Chân Tiên trên tảng đá cao khoảng 12m. Từ đỉnh cao núi Trà Sư, khách nhìn thấy toàn cảnh núi Két, núi Dài Năm Giếng, kinh Vĩnh Tế nổi tiếng – một vùng phong cảnh hữu tình, đẹp như tranh thủy mặc.

Núi Trà Sư dù không to lớn như núi Cấm nhưng cũng là một cảnh đẹp, thu hút nhiều khách hành hương. Nhận thấy ưu điểm đó, UBND huyện Tịnh Biên đang quy hoạch xây dựng khu du lịch núi Trà Sư, thị trấn Nhà Bàng với diện tích trên 9ha, với các dịch vụ vui chơi, giải trí, nghỉ dưỡng, tổng vốn đầu tư gần 99 tỉ đồng. Dự án khi hoàn thành đưa vào khai thác sẽ nâng cao giá trị vùng núi này thành một trọng điểm du lịch tâm linh.

Theo Cúc Tần (báo Cần Thơ) + internet