Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã xì trét. Hiển thị tất cả bài đăng

Mở ruộng đón khách 'chơi sen'

(VLO) - Đồng Tháp Mười mùa nước nổi trắng đồng, nhiều ruộng sen ngập lút chỉ vài búp sen hồng cố ngoi lên mặt nước, người trồng sen cũng thất thu. Nhưng không ngồi bó gối, nhiều nông dân nhạy bén đã tận dụng nước nổi và sen làm du lịch. Ruộng sen “mở cửa”, cất vài cái chòi choi loi giữa đồng nước, mấy ông Hai Lúa “hổng ngờ” khách tới chơi nườm nượp!

< Dịch vụ đưa khách tham quan ruộng sen mùa nước nổi bằng vỏ lãi, giá 10.000 đ/lượt.

Những năm trước, đã có doanh nghiệp làm du lịch trên ruộng sen. Thấy có ăn, nông dân bắt chước làm theo, tạo điểm du lịch đồng sen khá độc đáo và cuốn hút.

Bơi xuồng, hái sen, tắm ruộng

Dọc tuyến đê ngăn cách một bên là rừng tràm, năng, sen thuộc phạm vi bảo vệ Khu di tích Gò Tháp (huyện Tháp Mười- Đồng Tháp); một bên là cánh đồng mênh mông mà từ vài năm qua đã chuyển từ lúa sang trồng sen.

Chúng tôi như bước vào “phố du lịch” giữa mênh mông tràm và nước nổi, rôm rả tiếng mời chào ngọt ngào “ghé ruộng sen em chơi đi mấy anh…”. Có nhiều điểm phục vụ khách thỏa sức “vẫy vùng” trên ruộng sen, từ bơi xuồng, đổ xà di, giăng lưới, cần câu cá, đến tắm ruộng, hái sen… Tất cả chỉ từ 3.000-10.000 đ/người cho mỗi dịch vụ.

Điểm du lịch của gia đình chú Hai Hơn đông nghẹt khách ở nhà sàn- nhà gỗ mái lá là “trạm dừng chân” để khách ngồi chờ tới lượt ra chòi. Khách thỏa thích vọc nước, chụp hình với nước, trải nghiệm trên chiếc cầu ván phập phình bắc từ cây tràm này qua cây tràm khác. Thật ồn ào và vui vẻ.

Chú Hai phải huy động con cháu, bà con họ hàng… cả chục người làm phục vụ đưa đón khách, chế biến món ăn, bưng bê mà không kịp trở tay. Từng là hướng dẫn viên du lịch nên anh Sỹ- con chú Hai Hơn- “lận lưng” nhiều kinh nghiệm quản lý, phục vụ, lên thực đơn, cả… thuyết minh khi khách yêu cầu.

< Di chuyển khách ra chòi trên cánh đồng sen ngập nước.

Hơn nữa, anh còn quảng bá điểm du lịch gia đình trên mạng xã hội Facebook giới thiệu dịch vụ, món ăn và nhờ vậy, du khách ở các nơi biết đến “Đồng Sen Gò Tháp” nhiều hơn. “Vì nhà mình có cánh đồng sen và ở cạnh Khu di tích Gò Tháp, nên gọi vậy cho khách dễ nhớ”- anh Sỹ giải thích.

Có lẽ vậy mà 6 cái chòi dường như quá tải, nên phải cắt cử thêm người chuyên lo làm chòi. Chòi ngoài ruộng đã kín, nhưng khách “hổng chịu” ăn uống tại nhà sàn mà nhất định “phải ra chòi”. Anh Bình bới tô cơm chảng ngồi ăn dưới xuồng, vừa nói: “Khách nhiều phải dựng thêm chòi. Tụi tui làm chòi 2 mái đơn giản mà chắc chắn chừng 2- 3 ngày. Chòi làm xong cho khách ra liền”.

Khách được đưa ra chòi bằng chẹt lớn cùng với thức ăn và tự do “làm gì thì làm”. Có thể câu cá hoặc tắm ruộng thoải mái, hầu như nhóm khách nào cũng chuẩn bị sẵn quần áo để… tắm sen.

Khi có nhu cầu gọi thức ăn, khách gọi điện thoại cho chủ nhà, không thì la hết ga: “Thêm nước lẩu chòi 6 nhe”, “Cá nướng, chuột nướng chòi 2, lẹ lẹ giùm”, “Cá lóc chiên xù đi. Sao lâu quá…” Và thế nào từ nhà sàn cũng có tiếng đáp lớn: “Nghe rồi, nghe rồi…”, “ra liền, ra liền”. Món kêu thêm, gói thuốc, chai rượu… sẽ được phục vụ bơi xuồng mang ra cho khách.

Đoàn khách mới cập nhà sàn, vừa bước lên cầu ván, mấy cậu bé đã líu lo chỉ trỏ những con rắn trong lồng sắt: “Bầu ơi bầu, rắn nè bầu ơi”. “Đâu đâu, em coi, em coi”. “Rắn hổ kìa, con rắn màu vàng kia…”.

Những người lớn như đã có kinh nghiệm mang theo áo phao cho mấy bé tắm ngay cạnh nhà sàn. Để an toàn, những cái ruột xe hơi lớn rải đều khắp nơi, nếu không biết bơi cũng có thể ôm vỏ xe đập đùng, đập đùng…

“Hút” khách đến với sen

Lão nông tri điền Hai Hơn năm nay đã 60 tuổi, dáng người rắn rỏi, thân thiện nói với chúng tôi: “Mở ra làm du lịch mệt thiệt. Nhưng mà vui”. Nên ngày nào chú cũng ở đây phụ hợ con cháu chống xuồng đưa đón khách, giúp mấy nhỏ móc mồi vô lưỡi câu, hay đóng thêm cây đinh cho cầu ván chắc chắn…

< Trải nghiệm cầu ván trên đồng nước.

Còn thím Hai cũng vui ra mặt vì “mấy nhỏ tới đây chơi hồn nhiên, dễ thương lắm”. Thím Hai kể có đoàn khách sinh viên ở Vĩnh Long tới, chẹt đợi sẵn hổng chịu mà cởi đồ nhảy ùm ùm bơi qua kinh. Tới đây ăn uống, câu cá, tắm ruộng cả ngày mà còn nói chưa đã. Hồi về còn để bọc quần áo lại “tụi con gửi mai mốt xuống nữa…” Thím cất giữ dùm mà “thấy thương quá trời!”

Chúng tôi đã ăn “muốn hết” món ở đây, nhưng khi chào ra về, thím Hai còn níu kéo “ở lại thêm ngày nữa, còn món gà rang muối thím làm ngon lắm!” Sự nhiệt tình, thân thiện của chủ nhà làm du khách vẫn muốn trở lại đồng sen. Bởi theo thím Hai, qua mùa nước nổi ruộng sen vẫn “mở cửa” cho khách. Đặc biệt, nhiều cặp đôi chọn ruộng sen chụp ảnh cưới.

Mùa này nước ngập lút, nên khách chủ yếu bơi xuồng, câu cá và ăn uống trên chòi. Khách tới thưởng thức đặc sản Tháp Mười, nhưng cái chính là vui và trải nghiệm mùa nước nổi nên không mấy khó tính. Tuy nhiên, anh Sỹ cho biết thực đơn tại đây chăm chút khá kỹ.

Từ món cá lóc nướng trui gói lá sen, lẩu chua cá linh bông điên điển, cá rô chiên xù, cá thiều kho tộ, chuột đồng nướng… đến dĩa cơm hạt sen thơm nhẹ nhàng đều phảng phất chút dân dã mà tinh tế, để khách có thể cảm nhận sự tươi ngon và hoang sơ của vùng đất “Tháp Mười đẹp nhất bông sen” này…

Có lẽ từ những “xúc tác” đó và khi đã uống vài ly rượu sen, khách ngẫu hứng làm câu vọng cổ vang xa trên đồng nước. Dù không xa lạ gì, nhưng khi vừa lợp mái chòi chênh vênh, anh Bình cũng không nhịn được: “Ca hay quá. Tui muốn nhảy xuống sông luôn nè…”
Xem thêm >

Theo Lan Thương (báo Vĩnh Long)
(VLO) - Đồng Tháp Mười mùa nước nổi trắng đồng, nhiều ruộng sen ngập lút chỉ vài búp sen hồng cố ngoi lên mặt nước, người trồng sen cũng thất thu. Nhưng không ngồi bó gối, nhiều nông dân nhạy bén đã tận dụng nước nổi và sen làm du lịch. Ruộng sen “mở cửa”, cất vài cái chòi choi loi giữa đồng nước, mấy ông Hai Lúa “hổng ngờ” khách tới chơi nườm nượp!

< Dịch vụ đưa khách tham quan ruộng sen mùa nước nổi bằng vỏ lãi, giá 10.000 đ/lượt.

Những năm trước, đã có doanh nghiệp làm du lịch trên ruộng sen. Thấy có ăn, nông dân bắt chước làm theo, tạo điểm du lịch đồng sen khá độc đáo và cuốn hút.

Bơi xuồng, hái sen, tắm ruộng

Dọc tuyến đê ngăn cách một bên là rừng tràm, năng, sen thuộc phạm vi bảo vệ Khu di tích Gò Tháp (huyện Tháp Mười- Đồng Tháp); một bên là cánh đồng mênh mông mà từ vài năm qua đã chuyển từ lúa sang trồng sen.

Chúng tôi như bước vào “phố du lịch” giữa mênh mông tràm và nước nổi, rôm rả tiếng mời chào ngọt ngào “ghé ruộng sen em chơi đi mấy anh…”. Có nhiều điểm phục vụ khách thỏa sức “vẫy vùng” trên ruộng sen, từ bơi xuồng, đổ xà di, giăng lưới, cần câu cá, đến tắm ruộng, hái sen… Tất cả chỉ từ 3.000-10.000 đ/người cho mỗi dịch vụ.

Điểm du lịch của gia đình chú Hai Hơn đông nghẹt khách ở nhà sàn- nhà gỗ mái lá là “trạm dừng chân” để khách ngồi chờ tới lượt ra chòi. Khách thỏa thích vọc nước, chụp hình với nước, trải nghiệm trên chiếc cầu ván phập phình bắc từ cây tràm này qua cây tràm khác. Thật ồn ào và vui vẻ.

Chú Hai phải huy động con cháu, bà con họ hàng… cả chục người làm phục vụ đưa đón khách, chế biến món ăn, bưng bê mà không kịp trở tay. Từng là hướng dẫn viên du lịch nên anh Sỹ- con chú Hai Hơn- “lận lưng” nhiều kinh nghiệm quản lý, phục vụ, lên thực đơn, cả… thuyết minh khi khách yêu cầu.

< Di chuyển khách ra chòi trên cánh đồng sen ngập nước.

Hơn nữa, anh còn quảng bá điểm du lịch gia đình trên mạng xã hội Facebook giới thiệu dịch vụ, món ăn và nhờ vậy, du khách ở các nơi biết đến “Đồng Sen Gò Tháp” nhiều hơn. “Vì nhà mình có cánh đồng sen và ở cạnh Khu di tích Gò Tháp, nên gọi vậy cho khách dễ nhớ”- anh Sỹ giải thích.

Có lẽ vậy mà 6 cái chòi dường như quá tải, nên phải cắt cử thêm người chuyên lo làm chòi. Chòi ngoài ruộng đã kín, nhưng khách “hổng chịu” ăn uống tại nhà sàn mà nhất định “phải ra chòi”. Anh Bình bới tô cơm chảng ngồi ăn dưới xuồng, vừa nói: “Khách nhiều phải dựng thêm chòi. Tụi tui làm chòi 2 mái đơn giản mà chắc chắn chừng 2- 3 ngày. Chòi làm xong cho khách ra liền”.

Khách được đưa ra chòi bằng chẹt lớn cùng với thức ăn và tự do “làm gì thì làm”. Có thể câu cá hoặc tắm ruộng thoải mái, hầu như nhóm khách nào cũng chuẩn bị sẵn quần áo để… tắm sen.

Khi có nhu cầu gọi thức ăn, khách gọi điện thoại cho chủ nhà, không thì la hết ga: “Thêm nước lẩu chòi 6 nhe”, “Cá nướng, chuột nướng chòi 2, lẹ lẹ giùm”, “Cá lóc chiên xù đi. Sao lâu quá…” Và thế nào từ nhà sàn cũng có tiếng đáp lớn: “Nghe rồi, nghe rồi…”, “ra liền, ra liền”. Món kêu thêm, gói thuốc, chai rượu… sẽ được phục vụ bơi xuồng mang ra cho khách.

Đoàn khách mới cập nhà sàn, vừa bước lên cầu ván, mấy cậu bé đã líu lo chỉ trỏ những con rắn trong lồng sắt: “Bầu ơi bầu, rắn nè bầu ơi”. “Đâu đâu, em coi, em coi”. “Rắn hổ kìa, con rắn màu vàng kia…”.

Những người lớn như đã có kinh nghiệm mang theo áo phao cho mấy bé tắm ngay cạnh nhà sàn. Để an toàn, những cái ruột xe hơi lớn rải đều khắp nơi, nếu không biết bơi cũng có thể ôm vỏ xe đập đùng, đập đùng…

“Hút” khách đến với sen

Lão nông tri điền Hai Hơn năm nay đã 60 tuổi, dáng người rắn rỏi, thân thiện nói với chúng tôi: “Mở ra làm du lịch mệt thiệt. Nhưng mà vui”. Nên ngày nào chú cũng ở đây phụ hợ con cháu chống xuồng đưa đón khách, giúp mấy nhỏ móc mồi vô lưỡi câu, hay đóng thêm cây đinh cho cầu ván chắc chắn…

< Trải nghiệm cầu ván trên đồng nước.

Còn thím Hai cũng vui ra mặt vì “mấy nhỏ tới đây chơi hồn nhiên, dễ thương lắm”. Thím Hai kể có đoàn khách sinh viên ở Vĩnh Long tới, chẹt đợi sẵn hổng chịu mà cởi đồ nhảy ùm ùm bơi qua kinh. Tới đây ăn uống, câu cá, tắm ruộng cả ngày mà còn nói chưa đã. Hồi về còn để bọc quần áo lại “tụi con gửi mai mốt xuống nữa…” Thím cất giữ dùm mà “thấy thương quá trời!”

Chúng tôi đã ăn “muốn hết” món ở đây, nhưng khi chào ra về, thím Hai còn níu kéo “ở lại thêm ngày nữa, còn món gà rang muối thím làm ngon lắm!” Sự nhiệt tình, thân thiện của chủ nhà làm du khách vẫn muốn trở lại đồng sen. Bởi theo thím Hai, qua mùa nước nổi ruộng sen vẫn “mở cửa” cho khách. Đặc biệt, nhiều cặp đôi chọn ruộng sen chụp ảnh cưới.

Mùa này nước ngập lút, nên khách chủ yếu bơi xuồng, câu cá và ăn uống trên chòi. Khách tới thưởng thức đặc sản Tháp Mười, nhưng cái chính là vui và trải nghiệm mùa nước nổi nên không mấy khó tính. Tuy nhiên, anh Sỹ cho biết thực đơn tại đây chăm chút khá kỹ.

Từ món cá lóc nướng trui gói lá sen, lẩu chua cá linh bông điên điển, cá rô chiên xù, cá thiều kho tộ, chuột đồng nướng… đến dĩa cơm hạt sen thơm nhẹ nhàng đều phảng phất chút dân dã mà tinh tế, để khách có thể cảm nhận sự tươi ngon và hoang sơ của vùng đất “Tháp Mười đẹp nhất bông sen” này…

Có lẽ từ những “xúc tác” đó và khi đã uống vài ly rượu sen, khách ngẫu hứng làm câu vọng cổ vang xa trên đồng nước. Dù không xa lạ gì, nhưng khi vừa lợp mái chòi chênh vênh, anh Bình cũng không nhịn được: “Ca hay quá. Tui muốn nhảy xuống sông luôn nè…”
Xem thêm >

Theo Lan Thương (báo Vĩnh Long)

Lo cho Phanxipăng

(TTO) - Vài năm trước, nghe nói Phanxipăng sẽ làm cáp treo. Cứ tưởng thiên hạ đồn chơi. Ai dè kế hoạch đã được tỉnh Lào Cai phê duyệt và vừa khởi công. Dự án bao gồm cả resort cao cấp, sân golf 18 lỗ, các khu vui chơi giải trí... dự kiến hoàn thành vào dịp quốc khánh năm 2015.

Cáp treo ở Phanxipăng là cáp treo ba dây, mỗi cabin chứa được 35 khách, công suất vận chuyển 2.000 người mỗi giờ...
Đọc những thông tin trên, nhiều người vui và cũng nhiều người buồn. Người vui, mừng cho Sa Pa có thêm nhà đầu tư lớn. Mai này chỉ cần 15 phút cáp treo là lên tới độ cao 2.800m.

Ai có sức thì leo tiếp lên đỉnh 3.143m, còn không cũng được an ủi và có thể lập lờ là đã “chinh phục nóc nhà Đông Dương”. Giống hệt LangBian ở Lâm Đồng. Ngồi xe jeep 20 phút lên đỉnh rađa cũng vỗ ngực “chinh phục mái nhà Đà Lạt”, dù chỉ mới ở độ cao 1.950m. Trong khi đỉnh cao nhất là 2.169m và đường rất hiểm trở. Phe ủng hộ còn so sánh với Bà Nà, Đà Nẵng. Nhờ cáp treo và tổ hợp du lịch giải trí trên đỉnh, lượng khách lên Bà Nà tăng 30% mỗi năm.

Những người làm du lịch chuyên nghiệp thì buồn và lo, nhất là dân du lịch dã ngoại, sinh thái. Cánh thích leo núi mạo hiểm, trong đó có tôi thì bị sốc. Phanxipăng nằm trong vườn quốc gia Hoàng Liên, đường đi ngoạn mục, cảnh đẹp tuyệt vời. Các mỏm núi hẹp, chập chùng cây, có cả vườn chè cổ thụ ngàn năm tuổi.

Đây là điểm hẹn lý thú của những người luôn muốn “vượt qua chính mình”. Là nơi thử thách ý chí, rèn luyện bản lĩnh, kiểm tra tinh thần đồng đội... Là chốn trải nghiệm kỳ thú về động thực vật; từ cỏ cây, hoa lá, các loại côn trùng... Sau khi hoàn tất việc chinh phục Phanxipăng ba ngày hai đêm, như một khóa huấn luyện đặc biệt, nhiều học trò và đồng nghiệp trẻ của tôi đã khẳng định: “Mình giỏi hơn mình tưởng. Leo Phanxipăng được thì trên đời này chẳng có gì là không thể!”. Vậy mà huyền thoại Phanxipăng sắp bị xóa sổ.

Những kỷ lục cáp treo “phức tạp nhất, dài nhất, độc đáo nhất...” để làm gì khi môi trường và cảnh quan bị tàn phá, còn thực tế du lịch VN vẫn ì ạch. Bà Nà tăng trưởng 30% nhưng chỉ vài năm đầu, khách nước ngoài rất ít lên Bà Nà dù ngày xưa đây là nơi nghỉ dưỡng thú vị của họ. Thiên hạ lên Bà Nà vì tò mò để rồi thất vọng bởi sự ngột ngạt bêtông. Những ai từng lên Bà Nà khi chưa có cáp treo càng tiếc nuối.

Đà Nẵng nóng nên phải lên Bà Nà cho mát. Đằng này, Sa Pa vốn đã lạnh, cần gì lên Phanxipăng cho cóng? Khách đến Sa Pa năm 2012 chưa tới 1 triệu và gần 1/3 là khách nước ngoài. Tỉ lệ tăng trưởng nghịch giữa khách trong và ngoài nước đã nói lên thực trạng “Sa Pa đang ngày càng mất dần nét chân quê, mộc mạc”. Không khéo Sa Pa sẽ như Đà Lạt, chỉ còn khách nội địa là chủ yếu.

Ngoài căn bệnh bêtông hóa các điểm du lịch, VN còn có “hội chứng” cáp treo, cứ đua nhau lập kỷ lục thế giới. Riết chẳng còn chỗ nào thiên nhiên không bị xâm hại. Hễ đã có cáp treo thì chẳng còn ai leo đường bộ. Làm sao leo bộ nổi khi trên đầu mình thiên hạ nhí nhố? Càng không thể lý sự kiểu “đi cáp treo để tiết kiệm thời gian. Lên 2.800m rồi leo bộ tiếp”. Leo núi, phải leo từ đầu để làm quen với thử thách và sự thay đổi chứ không thể “đi tắt đón đầu”. Cứ một bước lên xe, hai bước là cáp treo thì con người sẽ hèn về thể lực, yếu về tinh thần, nhụt về ý chí.

Nhìn sang Malaysia, chỉ có ba di sản thế giới (VN 17) cũng không có nhiều cáp treo kỷ lục, nhưng lượng khách và lợi nhuận từ du lịch gần gấp năm lần VN. Kinabalu, ngọn núi cao nhất Asean, 4.095m, có thể được xem là mô hình để VN học tập. Mỗi ngày Kinabalu chỉ cho phép leo tối đa 120 người. Du khách phải đăng ký trước cả nửa năm, xếp hàng chờ đến lượt. Trước khi leo, mỗi người đều được kiểm tra sức khỏe và tuân thủ nghiêm nhặt các quy định về vật dụng leo núi, hướng dẫn viên.

Dọc đường có trạm dừng chụp ảnh, vệ sinh, y tế, cứu hộ... Hoàn tất, từng thành viên được cấp giấy chứng nhận và huy hiệu trang trọng. Còn Phanxipăng muốn leo bao nhiêu tùy hỉ, tất cả đều “tự cung tự xử” từ nhà vệ sinh, y tế đến cứu hộ... Bảng tên chỉ đường và bản đồ lộ trình thì nhếch nhác.

Chỉ 20% số tiền đầu tư cho dự án cáp treo hoành tráng là đủ để thay đổi hẳn diện mạo Phanxipăng. Được vậy, Phanxipăng vừa có thể sánh vai với Kinabalu, vừa đảm bảo cảnh quan môi trường và phát triển du lịch bền vững. Khi cáp treo Phanxipăng đưa vào hoạt động, huyền thoại và niềm kiêu hãnh “chinh phục nóc nhà Đông Dương” chỉ còn là hoài niệm tiếc nuối.
Xem thêm >

Theo Nguyễn Văn Mỹ (Chủ nhiệm Câu lạc bộ hướng dẫn viên TP.HCM) - báo Tuổi Trẻ.
(TTO) - Vài năm trước, nghe nói Phanxipăng sẽ làm cáp treo. Cứ tưởng thiên hạ đồn chơi. Ai dè kế hoạch đã được tỉnh Lào Cai phê duyệt và vừa khởi công. Dự án bao gồm cả resort cao cấp, sân golf 18 lỗ, các khu vui chơi giải trí... dự kiến hoàn thành vào dịp quốc khánh năm 2015.

Cáp treo ở Phanxipăng là cáp treo ba dây, mỗi cabin chứa được 35 khách, công suất vận chuyển 2.000 người mỗi giờ...
Đọc những thông tin trên, nhiều người vui và cũng nhiều người buồn. Người vui, mừng cho Sa Pa có thêm nhà đầu tư lớn. Mai này chỉ cần 15 phút cáp treo là lên tới độ cao 2.800m.

Ai có sức thì leo tiếp lên đỉnh 3.143m, còn không cũng được an ủi và có thể lập lờ là đã “chinh phục nóc nhà Đông Dương”. Giống hệt LangBian ở Lâm Đồng. Ngồi xe jeep 20 phút lên đỉnh rađa cũng vỗ ngực “chinh phục mái nhà Đà Lạt”, dù chỉ mới ở độ cao 1.950m. Trong khi đỉnh cao nhất là 2.169m và đường rất hiểm trở. Phe ủng hộ còn so sánh với Bà Nà, Đà Nẵng. Nhờ cáp treo và tổ hợp du lịch giải trí trên đỉnh, lượng khách lên Bà Nà tăng 30% mỗi năm.

Những người làm du lịch chuyên nghiệp thì buồn và lo, nhất là dân du lịch dã ngoại, sinh thái. Cánh thích leo núi mạo hiểm, trong đó có tôi thì bị sốc. Phanxipăng nằm trong vườn quốc gia Hoàng Liên, đường đi ngoạn mục, cảnh đẹp tuyệt vời. Các mỏm núi hẹp, chập chùng cây, có cả vườn chè cổ thụ ngàn năm tuổi.

Đây là điểm hẹn lý thú của những người luôn muốn “vượt qua chính mình”. Là nơi thử thách ý chí, rèn luyện bản lĩnh, kiểm tra tinh thần đồng đội... Là chốn trải nghiệm kỳ thú về động thực vật; từ cỏ cây, hoa lá, các loại côn trùng... Sau khi hoàn tất việc chinh phục Phanxipăng ba ngày hai đêm, như một khóa huấn luyện đặc biệt, nhiều học trò và đồng nghiệp trẻ của tôi đã khẳng định: “Mình giỏi hơn mình tưởng. Leo Phanxipăng được thì trên đời này chẳng có gì là không thể!”. Vậy mà huyền thoại Phanxipăng sắp bị xóa sổ.

Những kỷ lục cáp treo “phức tạp nhất, dài nhất, độc đáo nhất...” để làm gì khi môi trường và cảnh quan bị tàn phá, còn thực tế du lịch VN vẫn ì ạch. Bà Nà tăng trưởng 30% nhưng chỉ vài năm đầu, khách nước ngoài rất ít lên Bà Nà dù ngày xưa đây là nơi nghỉ dưỡng thú vị của họ. Thiên hạ lên Bà Nà vì tò mò để rồi thất vọng bởi sự ngột ngạt bêtông. Những ai từng lên Bà Nà khi chưa có cáp treo càng tiếc nuối.

Đà Nẵng nóng nên phải lên Bà Nà cho mát. Đằng này, Sa Pa vốn đã lạnh, cần gì lên Phanxipăng cho cóng? Khách đến Sa Pa năm 2012 chưa tới 1 triệu và gần 1/3 là khách nước ngoài. Tỉ lệ tăng trưởng nghịch giữa khách trong và ngoài nước đã nói lên thực trạng “Sa Pa đang ngày càng mất dần nét chân quê, mộc mạc”. Không khéo Sa Pa sẽ như Đà Lạt, chỉ còn khách nội địa là chủ yếu.

Ngoài căn bệnh bêtông hóa các điểm du lịch, VN còn có “hội chứng” cáp treo, cứ đua nhau lập kỷ lục thế giới. Riết chẳng còn chỗ nào thiên nhiên không bị xâm hại. Hễ đã có cáp treo thì chẳng còn ai leo đường bộ. Làm sao leo bộ nổi khi trên đầu mình thiên hạ nhí nhố? Càng không thể lý sự kiểu “đi cáp treo để tiết kiệm thời gian. Lên 2.800m rồi leo bộ tiếp”. Leo núi, phải leo từ đầu để làm quen với thử thách và sự thay đổi chứ không thể “đi tắt đón đầu”. Cứ một bước lên xe, hai bước là cáp treo thì con người sẽ hèn về thể lực, yếu về tinh thần, nhụt về ý chí.

Nhìn sang Malaysia, chỉ có ba di sản thế giới (VN 17) cũng không có nhiều cáp treo kỷ lục, nhưng lượng khách và lợi nhuận từ du lịch gần gấp năm lần VN. Kinabalu, ngọn núi cao nhất Asean, 4.095m, có thể được xem là mô hình để VN học tập. Mỗi ngày Kinabalu chỉ cho phép leo tối đa 120 người. Du khách phải đăng ký trước cả nửa năm, xếp hàng chờ đến lượt. Trước khi leo, mỗi người đều được kiểm tra sức khỏe và tuân thủ nghiêm nhặt các quy định về vật dụng leo núi, hướng dẫn viên.

Dọc đường có trạm dừng chụp ảnh, vệ sinh, y tế, cứu hộ... Hoàn tất, từng thành viên được cấp giấy chứng nhận và huy hiệu trang trọng. Còn Phanxipăng muốn leo bao nhiêu tùy hỉ, tất cả đều “tự cung tự xử” từ nhà vệ sinh, y tế đến cứu hộ... Bảng tên chỉ đường và bản đồ lộ trình thì nhếch nhác.

Chỉ 20% số tiền đầu tư cho dự án cáp treo hoành tráng là đủ để thay đổi hẳn diện mạo Phanxipăng. Được vậy, Phanxipăng vừa có thể sánh vai với Kinabalu, vừa đảm bảo cảnh quan môi trường và phát triển du lịch bền vững. Khi cáp treo Phanxipăng đưa vào hoạt động, huyền thoại và niềm kiêu hãnh “chinh phục nóc nhà Đông Dương” chỉ còn là hoài niệm tiếc nuối.
Xem thêm >

Theo Nguyễn Văn Mỹ (Chủ nhiệm Câu lạc bộ hướng dẫn viên TP.HCM) - báo Tuổi Trẻ.

Giữa bão Haiyan, ngược đỉnh đèo cứu sóng

(ICTnews) - Ngay giữa lúc siêu bão Haiyan đang tiến vào biển Đông, nhận được lệnh phải điều chỉnh lại hướng của anten của trạm biển đảo số hiệu ODN 172 nằm trên đèo Hải Vân đề đảm bảo chất lượng phát sóng, chiếc xe của đội kỹ thuật Viettel cấp tốc lăn bánh giữa trời mưa nặng hạt, gió giật cấp 8 và mây giăng mù đường đèo che khuất tầm nhìn...

Ngay trong sáng nay, 10/11, khi siêu bão Haiyan đang gây ra ảnh hưởng trên diện rộng tại các tỉnh miền Trung, nhận được lệnh từ lãnh đạo Viettel chi nhánh Đà Nẵng về việc cần kiểm tra, điều chỉnh lại gấp hướng của anten viba đã bị sức gió mạnh làm chệch...

... tại trạm biển đảo ODN 172 (trạm phát sóng có vị trí chiến lược với vùng phủ lên tới 100km, phục vụ đảm bảo thông tin liên lạc cho công tác quản lý, hoạt động kinh tế trên vùng biển đảo tổ quốc), đội kỹ thuật Viettel khu vực quận Liên Chiểu lập tức lên đường.

Xe lao đi trong mưa bão. Ngoài trời gió tạt liên hồi, mưa quất ràn rạt vào kính lái gây cản tầm nhìn, ngay phía dưới là vùng biển đang động dữ dội với những cơn sóng bạc đầu.

Trao đổi với ICTnews, anh Lê Công Cửu, Đội trưởng đội kỹ thuật Viettel khu vực quận Liên Chiểu cho hay, ODN 172 là trạm biển đảo có vị trí phức tạp nhất trên địa bàn quận, nằm ở độ cao 700m so với mặt nước biển, chiều cao 50 mét (tương đương với toà nhà trên 10 tầng).

Đường lên trạm rất khó khăn. Nếu tính từ điểm dừng chân dành cho khách du lịch trên đỉnh đèo Hải Vân, phải đi lên con đường độc đạo rất nhỏ dài gần 2km với chiều rộng chỉ đủ để một ô tô và một xe máy tránh nhau vất vả.

Càng lên cao sức gió ngày càng lớn, tạt mạnh hướng ra phía vực thẳm với mây mù giăng trắng trời. Cua tay áo liên tục, nhiều đoạn dốc lên tới trên 40 độ như thách thức chiếc xe tải nhỏ đang “cõng” theo thiết bị, đội ứng cứu kỹ thuật 2 người của Viettel Đà Nẵng và chiếc xe Zinger 7 chỗ chở đoàn phóng viên, cán bộ phòng Chính trị Tập đoàn Viettel tác nghiệp thực tế công tác ứng cứu thông tin trong bão Haiyan, dù đã cài số 1 nhưng vẫn phải dò từng bước lên đỉnh núi.

Theo nhân viên kỹ thuật Nguyễn Quang Thuận, việc đi lại lên trạm ngày thường vốn đã rất khó khăn. Nay đang giữa cơn bão lớn với bốn bề là mây mù, gió quất mạnh, chỉ một chút sơ sểnh và thiếu may mắn sẽ gây hậu quả khó lường…

Càng lên cao, gió cấp 7, cấp 8 càng quất mạnh do bốn bề không có cây cối, vách núi che cản, hoạt động ứng cứu của đội ngũ kỹ thuật gặp nhiều trở ngại.

Sau khoảng 20 phút cấp tốc xử lý, các thao tác kiểm tra an toàn kỹ thuật điều chỉnh lại vị trí tuyến anten viba, theo dõi hoạt động của thiết bị điện tử trạm phát… đã diễn ra suôn sẻ, đảm bảo kết nối thông tin liên lạc thông suốt.

Đội trưởng đội kỹ thuật Viettel khu vực quận Liên Chiểu, anh Lê Công Cửu chia sẻ hiện trạm đã hoạt động bình thường thế nhưng các cán bộ, nhân viên kỹ thuật luôn duy trì công tác ứng trực 24/24 giờ, không được phép lơ là do sau bão thường có mưa lớn, dễ gây mất điện diện rộng.

"Đây chỉ là một trong những hoạt động thường nhật của “lính” Viettel. Dù khắc nghiệt đến đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn xác định phải hoàn thành trong thời gian sớm nhất", đội trưởng Lê Công Cửu nói.
Xem thêm >

Theo Nguyên Đức (ICTnews)


Ta phượt, và các anh cũng phượt theo cung cách riêng: phượt vì nhiệm vụ.
(ICTnews) - Ngay giữa lúc siêu bão Haiyan đang tiến vào biển Đông, nhận được lệnh phải điều chỉnh lại hướng của anten của trạm biển đảo số hiệu ODN 172 nằm trên đèo Hải Vân đề đảm bảo chất lượng phát sóng, chiếc xe của đội kỹ thuật Viettel cấp tốc lăn bánh giữa trời mưa nặng hạt, gió giật cấp 8 và mây giăng mù đường đèo che khuất tầm nhìn...

Ngay trong sáng nay, 10/11, khi siêu bão Haiyan đang gây ra ảnh hưởng trên diện rộng tại các tỉnh miền Trung, nhận được lệnh từ lãnh đạo Viettel chi nhánh Đà Nẵng về việc cần kiểm tra, điều chỉnh lại gấp hướng của anten viba đã bị sức gió mạnh làm chệch...

... tại trạm biển đảo ODN 172 (trạm phát sóng có vị trí chiến lược với vùng phủ lên tới 100km, phục vụ đảm bảo thông tin liên lạc cho công tác quản lý, hoạt động kinh tế trên vùng biển đảo tổ quốc), đội kỹ thuật Viettel khu vực quận Liên Chiểu lập tức lên đường.

Xe lao đi trong mưa bão. Ngoài trời gió tạt liên hồi, mưa quất ràn rạt vào kính lái gây cản tầm nhìn, ngay phía dưới là vùng biển đang động dữ dội với những cơn sóng bạc đầu.

Trao đổi với ICTnews, anh Lê Công Cửu, Đội trưởng đội kỹ thuật Viettel khu vực quận Liên Chiểu cho hay, ODN 172 là trạm biển đảo có vị trí phức tạp nhất trên địa bàn quận, nằm ở độ cao 700m so với mặt nước biển, chiều cao 50 mét (tương đương với toà nhà trên 10 tầng).

Đường lên trạm rất khó khăn. Nếu tính từ điểm dừng chân dành cho khách du lịch trên đỉnh đèo Hải Vân, phải đi lên con đường độc đạo rất nhỏ dài gần 2km với chiều rộng chỉ đủ để một ô tô và một xe máy tránh nhau vất vả.

Càng lên cao sức gió ngày càng lớn, tạt mạnh hướng ra phía vực thẳm với mây mù giăng trắng trời. Cua tay áo liên tục, nhiều đoạn dốc lên tới trên 40 độ như thách thức chiếc xe tải nhỏ đang “cõng” theo thiết bị, đội ứng cứu kỹ thuật 2 người của Viettel Đà Nẵng và chiếc xe Zinger 7 chỗ chở đoàn phóng viên, cán bộ phòng Chính trị Tập đoàn Viettel tác nghiệp thực tế công tác ứng cứu thông tin trong bão Haiyan, dù đã cài số 1 nhưng vẫn phải dò từng bước lên đỉnh núi.

Theo nhân viên kỹ thuật Nguyễn Quang Thuận, việc đi lại lên trạm ngày thường vốn đã rất khó khăn. Nay đang giữa cơn bão lớn với bốn bề là mây mù, gió quất mạnh, chỉ một chút sơ sểnh và thiếu may mắn sẽ gây hậu quả khó lường…

Càng lên cao, gió cấp 7, cấp 8 càng quất mạnh do bốn bề không có cây cối, vách núi che cản, hoạt động ứng cứu của đội ngũ kỹ thuật gặp nhiều trở ngại.

Sau khoảng 20 phút cấp tốc xử lý, các thao tác kiểm tra an toàn kỹ thuật điều chỉnh lại vị trí tuyến anten viba, theo dõi hoạt động của thiết bị điện tử trạm phát… đã diễn ra suôn sẻ, đảm bảo kết nối thông tin liên lạc thông suốt.

Đội trưởng đội kỹ thuật Viettel khu vực quận Liên Chiểu, anh Lê Công Cửu chia sẻ hiện trạm đã hoạt động bình thường thế nhưng các cán bộ, nhân viên kỹ thuật luôn duy trì công tác ứng trực 24/24 giờ, không được phép lơ là do sau bão thường có mưa lớn, dễ gây mất điện diện rộng.

"Đây chỉ là một trong những hoạt động thường nhật của “lính” Viettel. Dù khắc nghiệt đến đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn xác định phải hoàn thành trong thời gian sớm nhất", đội trưởng Lê Công Cửu nói.
Xem thêm >

Theo Nguyên Đức (ICTnews)


Ta phượt, và các anh cũng phượt theo cung cách riêng: phượt vì nhiệm vụ.

Chợ 'độc' mùa nước nổi

(TNO) - Mùa nước nổi tràn về cũng là lúc làng quê ở An Giang lại chộn rộn với các chợ “độc” chuyên bán các mặt hàng chỉ xuất hiện trong mùa.

Chợ trùn Thất Sơn

Một trong những chợ “độc” chỉ xuất hiện theo con nước nổi là chợ trùn nằm trong góc khuất ở chợ Hòa Hưng (thị trấn Nhà Bàng, H.Tịnh Biên) có tuổi đời trên 40 năm. Chị Sang, một trong những chủ vựa trùn, nói cả miền Tây chỉ có nơi đây là có chợ trùn, các mối lái khác đều tới đây lấy trùn bán lại. Quả thật chị nói không quá lời, miền Tây có nhiều chợ côn trùng nhưng chưa có nơi nào có chợ trùn độc đáo như vùng Thất Sơn.

Chị Sang kể khi nước lớn tràn về, chợ trùn mới hoạt động xôm tụ, còn năm nào nước thấp chợ chắc chắn đìu hiu. Chị giải thích: “Nước lớn nên cá tôm cũng nhiều, ngư dân mới phấn khởi mua trùn làm mồi câu cá, tôm, lươn... Trùn bán ở chợ này là trùn hổ - mồi ngon rất bén cá tôm. Ngư dân còn dùng trùn để ủ sau đó đặt trong các ống trúm dụ bắt lươn, cua và các loài cá khác”. Theo kinh nghiệm của nhiều người trong nghề bán trùn, có một điều trùng hợp đó là khi trời sa mưa thì trứng trùn trong lòng đất nở thành trùn con. Đến khi con nước nổi tràn về thì trùn đã lớn, rồi sau đó qua mùa nước nổi tới nắng hạn trùn lại chết tan vào đất.

< Chị Sang đang cân trùn bán.

Mỗi ký trùn có giá bán từ 15.000 - 20.000 đồng, tùy theo mua lẻ hay mua sỉ. Chị Sang nhẩm tính từ sáng tới giờ mới bán được hơn 50 kg. Nghe chúng tôi hỏi thường mỗi ngày bán được bao nhiêu ký, chị nhìn xa xôi nói, mấy năm trước chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ là cân bán cả trăm ký trùn, có khi một ngày bán cả tấn. Ngày xưa nghe tên chợ trùn Thất Sơn ngư dân nào cũng biết. Còn bây giờ mọi chuyện đã khác...

Chị Sang bộc bạch năm nay mới 46 tuổi, nhưng đã có thâm niên bán trùn hơn... nửa đời người. Chị nói ngày xưa chợ trùn náo nhiệt lắm không lưa thưa như bây giờ đâu. Trong xóm con nít đã biết hốt trùn như hốt đất, nhà nào cũng chứa trùn hổ, vậy mà lái tới hối cân bán không đủ, rạng sáng ghe xuồng đậu đầy bờ kinh chờ tới lượt cân trùn. Những năm nước ngập lênh láng, người ta bơi xuồng tới cân trùn nên chợ đã nhộn nhịp càng thêm ồn ào.

Từ khi nghề nuôi cá tra và cá ba sa thịnh vượng thì chợ trùn càng sôi động hơn. Lúc đó, các ngư dân tới đặt mua trùn để đi câu cá ba sa, cá tra về bán cho các chủ bè thả làm cá giống. “Nhưng khoảng năm 2000, chợ trùn bắt đầu thưa thớt người mua kẻ bán", chị nói. Chị Sang lý giải do bây giờ các đồng lúa đã làm đê bao nên cá không còn lội vào đồng được. Nguồn lợi thủy sản giảm sút kéo theo các ngư dân đánh bắt cũng ít hẳn đi, rồi sau đó lại lai tạo thành công cá tra, cá ba sa nên dân câu cá giống xem như hết thời. Ngoài ra, ngày xưa ít sử dụng phân bón nên trùn hổ sinh sôi nhiều nhưng ngày nay dùng nhiều phân hóa học đã ảnh hưởng tới sinh trưởng của trùn làm cho chúng càng ít đi.

Anh Tư Vững  (35 tuổi, ngụ thị trấn Nhà Bàng) nói, bây giờ trùn hổ thì bắt bán câu cá, còn trùn quắn người ta mua làm thuốc hay nấu cháo ăn. Vững nói: “Trùn quắn ngâm rửa rạch, đem nấu cháo ăn ngon hơn cháo gà. Nhưng món này chỉ đãi người quen còn người lạ ăn ngại miệng”.

Rộn ràng chợ "độc"

Vào những ngày đầu tháng 10 này, chúng tôi có dịp len lỏi qua các tỉnh lộ, hương lộ vùng Vĩnh Quới (H.Tịnh Biên). Bà con ngư dân nói năm nay nước nổi lớn hơn năm 2012 nên cá tôm cũng khấm khá hơn. Vùng Thất Sơn có nhiều chợ họp rất sớm, tan nhanh nên người dân còn gọi là chợ “âm phủ”. Một trong những chợ âm phủ lâu đời là chợ Tha La, nhóm họp khoảng 3 giờ sáng ở chân cầu Tha La, tới 5 giờ thì chợ tan.

Khoảng thời gian tuy ngắn nhưng chợ thật rộn ràng. Xuồng câu lưới, lọp dớn... tấp nập đổ về. Các lái cá chộn rộn cân cá, rồi phân chia cá đồng theo nhóm, đưa lên xe đi nhanh về thị thành cho kịp buổi chợ trưa. Quá 6 giờ, chợ âm phủ Tha La nhường bước lại cho các chợ “chồm hổm” bán các loại cá nuôi chen lẫn cá sông, cá đồng.

< Hái bông điên điển bán.

Họp trễ hơn chợ âm phủ một chút là chợ tép đồng, chợ cá chạch ở xã Vĩnh Quới, H.Tri Tôn. Độ 6 giờ sáng, những người dân sau một đêm giăng lưới, kéo lưới vất vả trên đồng đã đem cá tép tới đây cân. Cảnh bán diễn ra ồn ào nhưng tan rất nhanh vì người mua kẻ bán quá rõ nhau nên không ai nói thách, cò kè thêm bớt.

Anh Sáu Đặng, một lái tép nói mùa nước nổi năm nay anh thu mỗi ngày hơn 300 kg tép với giá 10.000 đồng/kg. Lượng tép này được cân bán lại cho những người chuyên nấu bún cá, bún cua. Họ dùng để ủ làm mắm tép hay phơi tép làm khô trộn ăn với bún cá, bún cua.

Năm nay các cánh đồng vùng Tri Tôn nhiều nơi nước ngập lênh láng, nên với kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề, vựa cá ông Ngọc dự đoán cá linh, cá đồng như cá rô, cá sặc, cá lóc cùng các loài cá sông như cá khoai, cá chốt sẽ nhiều hơn.

< Chợ cua đồng Khánh An.

Mùa này cũng là mùa của những chợ tự phát như dọc theo quốc lộ 941 qua các xã Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Hanh của H.Châu Thành, hai bên đường rất đông người bày bán bông điên điển và gỏi điên điển. Bà Tư Bé, ngụ ở xã Vĩnh Bình nói mấy năm gần đây hàng trăm hộ dân tận dụng nước nổi trồng điên điển bán và cho thu hoạch khá. Bà  Bé nói: “Cây điên điển ngộ lắm, có nước nổi tràn về đồng dù nước lớn hay nhỏ chúng mới mọc được, khi nước rút bông tàn tụi tôi chặt bỏ cây điên điển trồng cây khác, đợi tới lũ năm sau tiếp tục trồng điên điển”. Bà Bé cho biết một hộp gỏi chua điên điển giá 30.000 đồng, còn một 100 gram bông điên điển tùy theo đầu mùa hay cuối mùa lũ má bán giá 3.000 - 4.000 đồng...

Chợ cua ốc đầu nguồn

Nếu miệt Thất Sơn sôi động với những chợ cá, tép thì vùng An Phú - đầu nguồn sông Hậu - cũng rôm rả với các mặt hàng cua đồng, ốc, rắn. Người mua kẻ bán hối hả để chủ vựa kịp vô hàng chuyển cua ốc lên xe tải đưa về TP.HCM, Hà Nội. Khác với chợ ở Thất Sơn, chợ độc vùng An Phú chỉ hoạt động vào ban chiều.

Ngay trên bãi đất trống gần chợ xã Khánh An, chợ ốc đồng lúc này đang nhộn nhịp. Cánh đàn ông thì khiêng cân ốc, cánh phụ nữ thì phân loại ốc lớn nhỏ, loại bỏ ốc chết cân ký bán cho các hộ nuôi cá. Bà Tư Lê, chủ vựa ốc, cho biết ốc đồng mua lại của ngư dân với giá từ 8.000 - 10.000 đồng/kg. Cầm con ốc to ù, bà Tư Lệ giải thích: “Mùa lũ mới có ốc đồng nhiều, người Sài Gòn, Hà Nội rất khoái ốc này vì chúng là ốc bươu chính hiệu". Bà Tư Lệ nhẩm tính có ngày cân mua hơn 2 tấn ốc, phân loại xong đóng ốc vô thùng đưa lên xe tải đi xa.

Từ chợ ốc đi vài cây số lại thấy nhộn nhịp chợ cua đồng. Anh Ba Long, chủ vựa cua, vui vẻ nói nước hơi lớn hơn năm rồi nên cua đồng cũng nhiều hơn, bình quân một ngày vựa anh thu trên 1 tấn cua. Anh Ba Long nói không ngờ gần đây dân Sài Gòn lại xem cua đồng là đặc sản, họ chỉ thích cua thiên nhiên chứ không kết cua nuôi. Mùa lũ nên nhiều con cua mập ù với đôi càng chắc khỏe. Anh Long cười: “Nước lũ về nên mua bán cũng thảnh thơi, còn mùa khô cua ít, giá mấy chục ngàn đồng ký mà mấy lái ở Sài Gòn cứ thúc hối không biết kiếm ở đâu mà giao cho đủ”.

Buổi chiều ở chợ Bắc Đai lại huyên náo. Người thì cân cua, người thì cân ốc, rắn, rắn mối... tạo ra âm thanh náo động làng quê.  Anh Sáu Hớn bán tạp nhạp cua rắn nói: “Mùa lũ dễ sống, cá cua, bắt cũng dễ, bán cũng mau. Như bầy rắn mối này mùa lũ nhiều lắm nên giá rẻ, 1 kg giá 50.000 đồng, đâu chừng 20 con được 1 kg, ăn no bụng luôn à nghen. Mùa khô làm gì có giá đó”.
Xem thêm >

Theo Thanh Dũng (báo Thanh Niên)
(TNO) - Mùa nước nổi tràn về cũng là lúc làng quê ở An Giang lại chộn rộn với các chợ “độc” chuyên bán các mặt hàng chỉ xuất hiện trong mùa.

Chợ trùn Thất Sơn

Một trong những chợ “độc” chỉ xuất hiện theo con nước nổi là chợ trùn nằm trong góc khuất ở chợ Hòa Hưng (thị trấn Nhà Bàng, H.Tịnh Biên) có tuổi đời trên 40 năm. Chị Sang, một trong những chủ vựa trùn, nói cả miền Tây chỉ có nơi đây là có chợ trùn, các mối lái khác đều tới đây lấy trùn bán lại. Quả thật chị nói không quá lời, miền Tây có nhiều chợ côn trùng nhưng chưa có nơi nào có chợ trùn độc đáo như vùng Thất Sơn.

Chị Sang kể khi nước lớn tràn về, chợ trùn mới hoạt động xôm tụ, còn năm nào nước thấp chợ chắc chắn đìu hiu. Chị giải thích: “Nước lớn nên cá tôm cũng nhiều, ngư dân mới phấn khởi mua trùn làm mồi câu cá, tôm, lươn... Trùn bán ở chợ này là trùn hổ - mồi ngon rất bén cá tôm. Ngư dân còn dùng trùn để ủ sau đó đặt trong các ống trúm dụ bắt lươn, cua và các loài cá khác”. Theo kinh nghiệm của nhiều người trong nghề bán trùn, có một điều trùng hợp đó là khi trời sa mưa thì trứng trùn trong lòng đất nở thành trùn con. Đến khi con nước nổi tràn về thì trùn đã lớn, rồi sau đó qua mùa nước nổi tới nắng hạn trùn lại chết tan vào đất.

< Chị Sang đang cân trùn bán.

Mỗi ký trùn có giá bán từ 15.000 - 20.000 đồng, tùy theo mua lẻ hay mua sỉ. Chị Sang nhẩm tính từ sáng tới giờ mới bán được hơn 50 kg. Nghe chúng tôi hỏi thường mỗi ngày bán được bao nhiêu ký, chị nhìn xa xôi nói, mấy năm trước chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ là cân bán cả trăm ký trùn, có khi một ngày bán cả tấn. Ngày xưa nghe tên chợ trùn Thất Sơn ngư dân nào cũng biết. Còn bây giờ mọi chuyện đã khác...

Chị Sang bộc bạch năm nay mới 46 tuổi, nhưng đã có thâm niên bán trùn hơn... nửa đời người. Chị nói ngày xưa chợ trùn náo nhiệt lắm không lưa thưa như bây giờ đâu. Trong xóm con nít đã biết hốt trùn như hốt đất, nhà nào cũng chứa trùn hổ, vậy mà lái tới hối cân bán không đủ, rạng sáng ghe xuồng đậu đầy bờ kinh chờ tới lượt cân trùn. Những năm nước ngập lênh láng, người ta bơi xuồng tới cân trùn nên chợ đã nhộn nhịp càng thêm ồn ào.

Từ khi nghề nuôi cá tra và cá ba sa thịnh vượng thì chợ trùn càng sôi động hơn. Lúc đó, các ngư dân tới đặt mua trùn để đi câu cá ba sa, cá tra về bán cho các chủ bè thả làm cá giống. “Nhưng khoảng năm 2000, chợ trùn bắt đầu thưa thớt người mua kẻ bán", chị nói. Chị Sang lý giải do bây giờ các đồng lúa đã làm đê bao nên cá không còn lội vào đồng được. Nguồn lợi thủy sản giảm sút kéo theo các ngư dân đánh bắt cũng ít hẳn đi, rồi sau đó lại lai tạo thành công cá tra, cá ba sa nên dân câu cá giống xem như hết thời. Ngoài ra, ngày xưa ít sử dụng phân bón nên trùn hổ sinh sôi nhiều nhưng ngày nay dùng nhiều phân hóa học đã ảnh hưởng tới sinh trưởng của trùn làm cho chúng càng ít đi.

Anh Tư Vững  (35 tuổi, ngụ thị trấn Nhà Bàng) nói, bây giờ trùn hổ thì bắt bán câu cá, còn trùn quắn người ta mua làm thuốc hay nấu cháo ăn. Vững nói: “Trùn quắn ngâm rửa rạch, đem nấu cháo ăn ngon hơn cháo gà. Nhưng món này chỉ đãi người quen còn người lạ ăn ngại miệng”.

Rộn ràng chợ "độc"

Vào những ngày đầu tháng 10 này, chúng tôi có dịp len lỏi qua các tỉnh lộ, hương lộ vùng Vĩnh Quới (H.Tịnh Biên). Bà con ngư dân nói năm nay nước nổi lớn hơn năm 2012 nên cá tôm cũng khấm khá hơn. Vùng Thất Sơn có nhiều chợ họp rất sớm, tan nhanh nên người dân còn gọi là chợ “âm phủ”. Một trong những chợ âm phủ lâu đời là chợ Tha La, nhóm họp khoảng 3 giờ sáng ở chân cầu Tha La, tới 5 giờ thì chợ tan.

Khoảng thời gian tuy ngắn nhưng chợ thật rộn ràng. Xuồng câu lưới, lọp dớn... tấp nập đổ về. Các lái cá chộn rộn cân cá, rồi phân chia cá đồng theo nhóm, đưa lên xe đi nhanh về thị thành cho kịp buổi chợ trưa. Quá 6 giờ, chợ âm phủ Tha La nhường bước lại cho các chợ “chồm hổm” bán các loại cá nuôi chen lẫn cá sông, cá đồng.

< Hái bông điên điển bán.

Họp trễ hơn chợ âm phủ một chút là chợ tép đồng, chợ cá chạch ở xã Vĩnh Quới, H.Tri Tôn. Độ 6 giờ sáng, những người dân sau một đêm giăng lưới, kéo lưới vất vả trên đồng đã đem cá tép tới đây cân. Cảnh bán diễn ra ồn ào nhưng tan rất nhanh vì người mua kẻ bán quá rõ nhau nên không ai nói thách, cò kè thêm bớt.

Anh Sáu Đặng, một lái tép nói mùa nước nổi năm nay anh thu mỗi ngày hơn 300 kg tép với giá 10.000 đồng/kg. Lượng tép này được cân bán lại cho những người chuyên nấu bún cá, bún cua. Họ dùng để ủ làm mắm tép hay phơi tép làm khô trộn ăn với bún cá, bún cua.

Năm nay các cánh đồng vùng Tri Tôn nhiều nơi nước ngập lênh láng, nên với kinh nghiệm mấy chục năm trong nghề, vựa cá ông Ngọc dự đoán cá linh, cá đồng như cá rô, cá sặc, cá lóc cùng các loài cá sông như cá khoai, cá chốt sẽ nhiều hơn.

< Chợ cua đồng Khánh An.

Mùa này cũng là mùa của những chợ tự phát như dọc theo quốc lộ 941 qua các xã Vĩnh Bình, Vĩnh An, Vĩnh Hanh của H.Châu Thành, hai bên đường rất đông người bày bán bông điên điển và gỏi điên điển. Bà Tư Bé, ngụ ở xã Vĩnh Bình nói mấy năm gần đây hàng trăm hộ dân tận dụng nước nổi trồng điên điển bán và cho thu hoạch khá. Bà  Bé nói: “Cây điên điển ngộ lắm, có nước nổi tràn về đồng dù nước lớn hay nhỏ chúng mới mọc được, khi nước rút bông tàn tụi tôi chặt bỏ cây điên điển trồng cây khác, đợi tới lũ năm sau tiếp tục trồng điên điển”. Bà Bé cho biết một hộp gỏi chua điên điển giá 30.000 đồng, còn một 100 gram bông điên điển tùy theo đầu mùa hay cuối mùa lũ má bán giá 3.000 - 4.000 đồng...

Chợ cua ốc đầu nguồn

Nếu miệt Thất Sơn sôi động với những chợ cá, tép thì vùng An Phú - đầu nguồn sông Hậu - cũng rôm rả với các mặt hàng cua đồng, ốc, rắn. Người mua kẻ bán hối hả để chủ vựa kịp vô hàng chuyển cua ốc lên xe tải đưa về TP.HCM, Hà Nội. Khác với chợ ở Thất Sơn, chợ độc vùng An Phú chỉ hoạt động vào ban chiều.

Ngay trên bãi đất trống gần chợ xã Khánh An, chợ ốc đồng lúc này đang nhộn nhịp. Cánh đàn ông thì khiêng cân ốc, cánh phụ nữ thì phân loại ốc lớn nhỏ, loại bỏ ốc chết cân ký bán cho các hộ nuôi cá. Bà Tư Lê, chủ vựa ốc, cho biết ốc đồng mua lại của ngư dân với giá từ 8.000 - 10.000 đồng/kg. Cầm con ốc to ù, bà Tư Lệ giải thích: “Mùa lũ mới có ốc đồng nhiều, người Sài Gòn, Hà Nội rất khoái ốc này vì chúng là ốc bươu chính hiệu". Bà Tư Lệ nhẩm tính có ngày cân mua hơn 2 tấn ốc, phân loại xong đóng ốc vô thùng đưa lên xe tải đi xa.

Từ chợ ốc đi vài cây số lại thấy nhộn nhịp chợ cua đồng. Anh Ba Long, chủ vựa cua, vui vẻ nói nước hơi lớn hơn năm rồi nên cua đồng cũng nhiều hơn, bình quân một ngày vựa anh thu trên 1 tấn cua. Anh Ba Long nói không ngờ gần đây dân Sài Gòn lại xem cua đồng là đặc sản, họ chỉ thích cua thiên nhiên chứ không kết cua nuôi. Mùa lũ nên nhiều con cua mập ù với đôi càng chắc khỏe. Anh Long cười: “Nước lũ về nên mua bán cũng thảnh thơi, còn mùa khô cua ít, giá mấy chục ngàn đồng ký mà mấy lái ở Sài Gòn cứ thúc hối không biết kiếm ở đâu mà giao cho đủ”.

Buổi chiều ở chợ Bắc Đai lại huyên náo. Người thì cân cua, người thì cân ốc, rắn, rắn mối... tạo ra âm thanh náo động làng quê.  Anh Sáu Hớn bán tạp nhạp cua rắn nói: “Mùa lũ dễ sống, cá cua, bắt cũng dễ, bán cũng mau. Như bầy rắn mối này mùa lũ nhiều lắm nên giá rẻ, 1 kg giá 50.000 đồng, đâu chừng 20 con được 1 kg, ăn no bụng luôn à nghen. Mùa khô làm gì có giá đó”.
Xem thêm >

Theo Thanh Dũng (báo Thanh Niên)

Lãng mạn với đầu nguồn, biên tái…

(Thangnt) - Lang thang xứ sở, mỗi lần gặp một dòng nước lạ, tôi đều nháo nhác hỏi bất kỳ ai thắc mắc của mình: “sông/suối này là sông/suối gì bác nhỉ”. Nhưng ít ai thèm để ý đến câu hỏi ngơ ngẩn kiểu mộng rớt thi nhân nửa mùa của tôi, bởi họ đang tranh luận cây cầu bắc qua sông đầu tư bao nhiêu tỷ, cái ô tô vừa lướt qua là của hãng gì mà đẹp đến thế, rồi cái cô ngồi trong xe, chân đã dài miên man, mắt lại ướt sượt như là… có lửa.

Khi ấy, tôi bèn lẩn thẩn ao ước, giá mà cùng với việc kẻ vẽ tên cầu là gì, xây ngày bao nhiêu, hợp long ngày nào, cao bao nhiêu, dài bao nhiêu mét tây mét ta, tải trọng bao nhiêu – nên chăng, người ta viết thêm cái dòng cầu ấy bắc qua sông/suối gì thì… quý hoá quá.

Con sông! Nó mang tải cả những nền văn minh lớn nhất của nhân loại, hạt phù sa của nó nhiệm màu đến mức cứ khiêm tốn lặng lẽ thế mà làm thay đổi cả thế giới này. Sông suối càng lớn, hương rừng sắc núi, sóng nước ngàu ngọt càng lắng tụ nhiều, sinh ra hiền kiệt giai nhân.

< Tác giả tại thượng nguồn sông Hồng, nơi ngã ba suối giáp biên Lũng Pô và sông Hồng vừa gặp nhau.

Không ai ngọt ngào với tên sông tên suối, không ai thích thắc mắc, sông lớn mày chảy về đâu, mày từ đâu đến, tôi bèn lần mò tự định vị sông, khám phá sông, lý giải sông. Rồi đến lúc, đi mãi, giật mình, mình đã có cả bộ sưu tập ảnh thượng nguồn các dòng sông lớn (tạm thời cứ tính trên lãnh thổ Việt Nam). Luyện công phu đến độ có thể nhắm mắt thấy dào dạt sông nào đi từ đâu, đến đâu thì hoà nước vào sông anh sông chị (lớn hơn) mà tiếp tục xuôi ra biển (hoặc đôi khi chảy ngược, kiểu “Chúng thuỷ giai đông tẩu/ Đà giang độc Bắc lưu” (sông Đà có khúc chảy ngược lên phía Bắc), hoặc nữa: “Trăm con sông cùng chảy về xuôi/ riêng quê tôi có con sông chảy ngược” (sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, từ Trung Quốc về Việt Nam rồi chảy ngược sang… Trung Quốc; nó cũng giống như sông Quây Sơn ở Cao Bằng)…

Chung quy thì kiếp sông hồ rất giống kiếp con người, có các giai đoạn ứng với những ái ố hỉ nộ/ mạnh yếu theo một quy luật; nhưng cái thói cá lớn nuốt cá bé thì đám sông ngòi nó dã man hơn đứt cái anh… người. Sông lớn ăn thịt sông bé, sông Nậm Na thơ mộng và hùng vĩ đệ nhất toàn cõi Tây Bắc, gặp sông Đà ở chỗ dinh “vua Thái” Đèo Văn Long giáp ranh hai tỉnh Điện Biên – Lai Châu thì bị sông Đà nuốt chửng, sông Đà sặc sỡ chuồi mình trên đá phiến, về đến ngã ba Trung Hà của tỉnh Hà Tây thì bị sông Hồng ăn thịt. Sông Hồng đi thêm một khúc đường hơn chục cây số nữa thì lại đớp luôn mất sông Lô ở ngã ba Bạch Hạc huyền sử. Trước đó, sông Lô đã cướp nước của sông Gâm, sông Chảy. Cái câu trăm sông đổ về biển lớn rất đúng, đúng trước nhất là ở cái nghĩa đen xì “sông lớn nuốt sông bé” này của nó.

< Thượng nguồn sông Quây Sơn trên đất Việt thuộc địa bàn xã biên giới Đàm Thuỷ, Trùng Khánh, Cao Bằng.

Nếu không sợ các bạn mê ngành “sông học” rối rắm, thì cũng cần mở ngoặc thêm, thường thì sông vẫn lạnh lùng sát thủ với nhau theo lối cá lớn nuốt cá bé. Nhưng đôi khi cũng có ngoại lệ (đời người cũng vậy mà), ví thử nhiều nhà khoa học đã bắc máy móc đo đạc đàng hoàng rồi kết luận, rằng là ở cái chỗ Trung Hà (còn gọi là ngã ba Hồng Đà, vì đó là nơi sông Hồng, sông Đà húc phải nhau), lưu lượng nước của sông Đà (đơn vị là m3/s) lớn hơn sông Hồng hẳn hoi.

Nhưng sông Đà không nuốt được sông Hồng, mà oán thán thay! – ngược lại. Lý do dễ hình dung thế này: một lọ mực Cửu Long đổ vào một bể nước, thì cái màu mực ít ỏi vẫn thắng màu nước lã tràn trề, đơn giản nó là cái màu mạnh, màu lấn át. Sông Hồng đã thắng vì cái màu hồng đỏ nặng phù sa của nó, cái tên Sông Hồng đã rạng danh trôi về đến tận biển Đông. Cái màu hồng sậm đặc. Thôi thì sông Hồng nó có đức thì nó được hưởng lộc giời một tí cũng xứng đáng thôi. Bởi phù sa của sông Hồng đục ngàu, nó là dòng sông có sức lấn biển lớn thứ nhì trên thế giới, mỗi năm, vùng Kim Sơn, Tiền Hải (Ninh Bình, Thái Bình) lấn ra biển tới 80m, chỉ đứng sau có mỗi cái kỷ lục lấn biển của sông Misssissippi của Bắc Mỹ!

< Nguồn sông Chảy và cảnh mở đường dần tiến lên bản Cốc Dế, Si Ma Cai, Lào Cai.

Thế cho nên, nếu bạn muốn xem kỳ quan thiên nhiên thì hãy đến Ngã ba Hồng – Đà (giáp ranh hai tỉnh Phú Thọ và Hà Tây): một dòng sông chia đôi tim dòng ra, thấy rất rõ nó có hai màu: hữu ngạn có màu đỏ như nước cốt trầu; và tả ngạn thì lại cứ xanh đen như nghiền nát đá núi với ngàn vạn diệp lục rừng già trong bụng nước. Nửa tả ngạn là nước xanh đen của sông Đà mà người Pháp trước đây gọi là sông Đen (Rivièrre Noire), nửa hữu ngạn là nước đỏ đặc, đỏ đậm đến mức gọi thành tên sông Đỏ (cũng Pháp gọi là Rivièrre Rouge) của sông Thao (tên gọi khúc trung lưu của sông Hồng). Hai con sông gặp nhau, hai cái màu cãi nhau một chốc rồi “chó con bỏ bu”, chúng tự thoả thuận, sông Đà tự rút lui. Nó tìm lối thoát trong danh dự, bảo rằng: sở dĩ tớ bỏ cuộc đua về với biển, là vì tớ là con sông dũng mãnh, suốt đời chỉ hồng hộc băng mình trên đá phiến và ghềnh thác. Đến chỗ Hà Tây, Phú Thọ, chảy trên đất bằng phẳng, tớ tê cuồng triệu triệu cái vó nước, tớ quay đầu ngược Tây Bắc để thoả chí rong chơi với ghềnh thác…

< Phong cảnh quyến rũ của sông Đà, nơi con sông Đà chảy vào đất Việt.

Tựu trung có vài cái cách đặt tên sông rất dễ nhớ, hoặc gọi là “sông”, hoặc gọi là “nậm” (hoặc đọc chệch là “nặm”, tức là dòng nước, theo tiếng của một số cộng đồng người phía Bắc). Nậm Tè là dòng nước chảy qua huyện Mường Tè, nó chính là tên “phương ngữ” dùng để gọi sông Đà ở khúc thượng lưu. Nặm Tao là tên gọi của sông Hồng ở đoạn trên, xuống khu vực trung du Phú Thọ bà con gọi (và đọc chệch theo phương ngữ, tiếng Việt) thành Sông Thao (Sông Thao nước đục người đen/ Ai lên Vũ Ẻn thì quên đường về), ở khúc từ Hà Tây đổ về biển qua cửa Ba Lạt, Thái Bình – sông Thao chính là sông Hồng. Cả vùng Tây Bắc vút ngàn trùng xa, hầu hết cả chục con sông, cả trăm con suối đều bắt đầu bằng chữ Nậm, vào mãi khu Bắc miền Trung như Nghệ An, ta vẫn gặp Nậm Mộ, Nậm Nơn (dòng sông làm Thuỷ điện Bản Vẽ, cuối năm 2007, chúng ta vừa mất ít nhất 18 kỹ sư và công nhân trong lòng núi dữ ở đó). Nậm Nơn, Nậm Mộ, hai con sông kỳ ảo lướt mình giữa mênh mông diệp lục của rừng Việt, rừng Lào, qua những bản làng dân tộc thiểu số sặc sỡ sắc màu (như người Ơ-đu, Đan Lai), đôi sông dữ dằn đã húc vào nhau ở ngã ba huyện Tương Dương, khai sinh ra sông Lam.

< Nơi sông Lam được sinh ra, ngã ba Nậm Mộ, Nậm Nơn thuộc địa bàn huyện Tương Dương, Nghệ An.

Nước sông Lam biết khi mô cho cạn, con sông này ăn quá sâu vào tiềm thức người quê Bác nói riêng và cả người Việt Nam nói chung; nhưng ít ai để ý rằng, “cậu/cô ta” dù được gọi là sông Cả, nhưng cả việc sinh ra, cả việc vùi mình vào với biển ở gần cầu Bến Thuỷ nổi tiếng, “đồng chí ông Lam” chưa bao giờ bò ra khỏi địa phận duy nhất một cái tỉnh Nghệ An. Kỷ lục nữa, ở quê hương câu hò Nghệ Tĩnh, ôm trong mình con sông có cái tên thơ mộng nhất Việt Nam, sông Giăng (ở Con Cuông) và con sông có cái tên… (cảm giác là) ô nhiễm nhất Việt Nam (sông Rác ở Kỳ Anh).

Mấy cái kỷ lục mà tôi mạnh dạn tấn phong nữa, đó là con sông chảy trên cao nguyên cao nhất Việt Nam, tạo nên áng tình sử núi – sông kỳ vĩ nhất: sông Nho Quế. Nếu đứng trên Mã Pí Lèng án ngữ giữa hai huyện vòi vọi của cao nguyên đá Đồng Văn – Mèo Vạc, bạn sẽ có cảm giác sông Nho Quế chỉ là một chút dung nham trắng xanh kỳ ảo, không thấy nước chảy, không thấy thác reo. Ném hòn đá lớn xuống sông, bạn sẽ không thể quan sát được viên đá bay đi đâu, và nếu nó đụng vào mặt sông thì đụng bằng cách nào, nó lăn bao lâu mới qua được vời vợi vực sâu ngàn thước len cao ngàn thước xuống giữa lởm chởm đá, tơi toang một biển mây mù kia.

< Sông Nho Quế, phần thượng du kỳ vĩ và hoang vu tột cùng, nhìn từ đỉnh Mã Pí Lèng, Hà Giang, đỉnh của cao nguyên cao nhất Việt Nam.

Tiếp: con sông chảy từ Trung Hoa vào Cao Bằng, hình như thấy cái chỗ đã cao lại còn bằng thì chảy làm sao, sông quày quả lượn sang nước bạn, để lại cái tên diễm tình “sông Quây Sơn” và hệ thống thác cao, đẹp, mĩ miều nhất mà người Việt Nam không xuất ngoại vẫn được mục sở thị: thác Bản Giốc. Chuyện về sông nó cũng dài như sông vậy. Tôi lan man muốn tổ chức tua du lịch sinh thái (nói chữ sinh thái vào cho nó “mốt”): đi đến thượng nguồn các dòng sông dữ, sông lớn, sông mang tải lịch sử nước nhà. Những chuyến đi đệ nhất gian khổ nhưng mà cũng đệ nhất sung sướng.

Ai cũng biết, sông Hồng là bầu sữa mẹ lớn nhất, là “cái bọc trăm trứng” kỳ diệu đã khai sinh ra cả nền văn minh của Châu thổ Bắc Bộ. Nền văn minh của người Việt. Sông Thao – Sông Hồng – Sông Cái – sông Mẹ, đó là vài trong số rất nhiều những cái tên thương mến, kính cẩn mà người Việt Nam đã dùng để nhắc đến Red River. Hạt phù sa màu nhiệm của sông Hồng đã nuôi dưỡng, tưới tắm cho cả châu thổ Bắc Việt Nam, cái nôi của nền văn minh Đại Việt. Tôi sinh ra ở cái ngã ba Hồng – Đà nơi hai con sông lớn hoà sắc vào nhau, tôi lớn lên ở rệ đê sông Hồng, được tưới tắm nhiều năm bởi sông Cái; nên mới gọi cái vụ liều mình lên đầu ngọn sông Hồng (địa bàn biên giới tỉnh Lào Cai) thời hoang rậm kia là một chuyến hành hương. nhưng dữ dằn hơn, hoang dại, hiểm trở và gây nhiều xúc cảm “choáng” hơn, là thượng nguồn sông Đà (trên địa bàn biên giới tỉnh Lai Châu), sông Chảy (địa bàn biên giới tỉnh Lào Cai).

Mơ màng và ghềnh thác, là thượng nguồn sông Lam (địa bàn huyện Tương Dương, Nghệ An). Sông Quây Sơn ở khúc thượng du thật diễm tình với Thác Bản Giốc (địa bàn biên giới tỉnh Cao Bằng). Nho Quế lại hoang vu, kỳ quan dựng giữ đất trời hùng vĩ, nó gợi cho con người ta cái xúc cảm vũ trụ hơn cả (địa bàn tỉnh Hà Giang) – càng “vũ trụ” thì càng thấy kiếp phận người thật nhỏ bé, và thấy con người cần những dòng sông như thế biết bao nhiêu. Miền Trung sông thường dốc, chảy ào một cái đã qua khúc ruột buốt xót nắng hạn lũ nhiều kia ra biển lớn. Miền Nam sông hiền hoà đến tẻ nhạt, sông lớn nhất như Mê Kông, trước khi vào Việt Nam lại còn ủ mình nhút nhát trong cái Biển Hồ ngờm ngợp nước.

Hoá ra, sông ngòi Việt Nam, ám ảnh người ta hơn cả là những con sông kỳ bí và dễ gây sửng sốt ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Nhưng, quê hương ai cũng có một dòng sông, sông nào chả đẹp.
Xem thêm >

Theo Đỗ Doãn Hoàng (Thangnt.blog.com)
(Thangnt) - Lang thang xứ sở, mỗi lần gặp một dòng nước lạ, tôi đều nháo nhác hỏi bất kỳ ai thắc mắc của mình: “sông/suối này là sông/suối gì bác nhỉ”. Nhưng ít ai thèm để ý đến câu hỏi ngơ ngẩn kiểu mộng rớt thi nhân nửa mùa của tôi, bởi họ đang tranh luận cây cầu bắc qua sông đầu tư bao nhiêu tỷ, cái ô tô vừa lướt qua là của hãng gì mà đẹp đến thế, rồi cái cô ngồi trong xe, chân đã dài miên man, mắt lại ướt sượt như là… có lửa.

Khi ấy, tôi bèn lẩn thẩn ao ước, giá mà cùng với việc kẻ vẽ tên cầu là gì, xây ngày bao nhiêu, hợp long ngày nào, cao bao nhiêu, dài bao nhiêu mét tây mét ta, tải trọng bao nhiêu – nên chăng, người ta viết thêm cái dòng cầu ấy bắc qua sông/suối gì thì… quý hoá quá.

Con sông! Nó mang tải cả những nền văn minh lớn nhất của nhân loại, hạt phù sa của nó nhiệm màu đến mức cứ khiêm tốn lặng lẽ thế mà làm thay đổi cả thế giới này. Sông suối càng lớn, hương rừng sắc núi, sóng nước ngàu ngọt càng lắng tụ nhiều, sinh ra hiền kiệt giai nhân.

< Tác giả tại thượng nguồn sông Hồng, nơi ngã ba suối giáp biên Lũng Pô và sông Hồng vừa gặp nhau.

Không ai ngọt ngào với tên sông tên suối, không ai thích thắc mắc, sông lớn mày chảy về đâu, mày từ đâu đến, tôi bèn lần mò tự định vị sông, khám phá sông, lý giải sông. Rồi đến lúc, đi mãi, giật mình, mình đã có cả bộ sưu tập ảnh thượng nguồn các dòng sông lớn (tạm thời cứ tính trên lãnh thổ Việt Nam). Luyện công phu đến độ có thể nhắm mắt thấy dào dạt sông nào đi từ đâu, đến đâu thì hoà nước vào sông anh sông chị (lớn hơn) mà tiếp tục xuôi ra biển (hoặc đôi khi chảy ngược, kiểu “Chúng thuỷ giai đông tẩu/ Đà giang độc Bắc lưu” (sông Đà có khúc chảy ngược lên phía Bắc), hoặc nữa: “Trăm con sông cùng chảy về xuôi/ riêng quê tôi có con sông chảy ngược” (sông Kỳ Cùng ở Lạng Sơn, từ Trung Quốc về Việt Nam rồi chảy ngược sang… Trung Quốc; nó cũng giống như sông Quây Sơn ở Cao Bằng)…

Chung quy thì kiếp sông hồ rất giống kiếp con người, có các giai đoạn ứng với những ái ố hỉ nộ/ mạnh yếu theo một quy luật; nhưng cái thói cá lớn nuốt cá bé thì đám sông ngòi nó dã man hơn đứt cái anh… người. Sông lớn ăn thịt sông bé, sông Nậm Na thơ mộng và hùng vĩ đệ nhất toàn cõi Tây Bắc, gặp sông Đà ở chỗ dinh “vua Thái” Đèo Văn Long giáp ranh hai tỉnh Điện Biên – Lai Châu thì bị sông Đà nuốt chửng, sông Đà sặc sỡ chuồi mình trên đá phiến, về đến ngã ba Trung Hà của tỉnh Hà Tây thì bị sông Hồng ăn thịt. Sông Hồng đi thêm một khúc đường hơn chục cây số nữa thì lại đớp luôn mất sông Lô ở ngã ba Bạch Hạc huyền sử. Trước đó, sông Lô đã cướp nước của sông Gâm, sông Chảy. Cái câu trăm sông đổ về biển lớn rất đúng, đúng trước nhất là ở cái nghĩa đen xì “sông lớn nuốt sông bé” này của nó.

< Thượng nguồn sông Quây Sơn trên đất Việt thuộc địa bàn xã biên giới Đàm Thuỷ, Trùng Khánh, Cao Bằng.

Nếu không sợ các bạn mê ngành “sông học” rối rắm, thì cũng cần mở ngoặc thêm, thường thì sông vẫn lạnh lùng sát thủ với nhau theo lối cá lớn nuốt cá bé. Nhưng đôi khi cũng có ngoại lệ (đời người cũng vậy mà), ví thử nhiều nhà khoa học đã bắc máy móc đo đạc đàng hoàng rồi kết luận, rằng là ở cái chỗ Trung Hà (còn gọi là ngã ba Hồng Đà, vì đó là nơi sông Hồng, sông Đà húc phải nhau), lưu lượng nước của sông Đà (đơn vị là m3/s) lớn hơn sông Hồng hẳn hoi.

Nhưng sông Đà không nuốt được sông Hồng, mà oán thán thay! – ngược lại. Lý do dễ hình dung thế này: một lọ mực Cửu Long đổ vào một bể nước, thì cái màu mực ít ỏi vẫn thắng màu nước lã tràn trề, đơn giản nó là cái màu mạnh, màu lấn át. Sông Hồng đã thắng vì cái màu hồng đỏ nặng phù sa của nó, cái tên Sông Hồng đã rạng danh trôi về đến tận biển Đông. Cái màu hồng sậm đặc. Thôi thì sông Hồng nó có đức thì nó được hưởng lộc giời một tí cũng xứng đáng thôi. Bởi phù sa của sông Hồng đục ngàu, nó là dòng sông có sức lấn biển lớn thứ nhì trên thế giới, mỗi năm, vùng Kim Sơn, Tiền Hải (Ninh Bình, Thái Bình) lấn ra biển tới 80m, chỉ đứng sau có mỗi cái kỷ lục lấn biển của sông Misssissippi của Bắc Mỹ!

< Nguồn sông Chảy và cảnh mở đường dần tiến lên bản Cốc Dế, Si Ma Cai, Lào Cai.

Thế cho nên, nếu bạn muốn xem kỳ quan thiên nhiên thì hãy đến Ngã ba Hồng – Đà (giáp ranh hai tỉnh Phú Thọ và Hà Tây): một dòng sông chia đôi tim dòng ra, thấy rất rõ nó có hai màu: hữu ngạn có màu đỏ như nước cốt trầu; và tả ngạn thì lại cứ xanh đen như nghiền nát đá núi với ngàn vạn diệp lục rừng già trong bụng nước. Nửa tả ngạn là nước xanh đen của sông Đà mà người Pháp trước đây gọi là sông Đen (Rivièrre Noire), nửa hữu ngạn là nước đỏ đặc, đỏ đậm đến mức gọi thành tên sông Đỏ (cũng Pháp gọi là Rivièrre Rouge) của sông Thao (tên gọi khúc trung lưu của sông Hồng). Hai con sông gặp nhau, hai cái màu cãi nhau một chốc rồi “chó con bỏ bu”, chúng tự thoả thuận, sông Đà tự rút lui. Nó tìm lối thoát trong danh dự, bảo rằng: sở dĩ tớ bỏ cuộc đua về với biển, là vì tớ là con sông dũng mãnh, suốt đời chỉ hồng hộc băng mình trên đá phiến và ghềnh thác. Đến chỗ Hà Tây, Phú Thọ, chảy trên đất bằng phẳng, tớ tê cuồng triệu triệu cái vó nước, tớ quay đầu ngược Tây Bắc để thoả chí rong chơi với ghềnh thác…

< Phong cảnh quyến rũ của sông Đà, nơi con sông Đà chảy vào đất Việt.

Tựu trung có vài cái cách đặt tên sông rất dễ nhớ, hoặc gọi là “sông”, hoặc gọi là “nậm” (hoặc đọc chệch là “nặm”, tức là dòng nước, theo tiếng của một số cộng đồng người phía Bắc). Nậm Tè là dòng nước chảy qua huyện Mường Tè, nó chính là tên “phương ngữ” dùng để gọi sông Đà ở khúc thượng lưu. Nặm Tao là tên gọi của sông Hồng ở đoạn trên, xuống khu vực trung du Phú Thọ bà con gọi (và đọc chệch theo phương ngữ, tiếng Việt) thành Sông Thao (Sông Thao nước đục người đen/ Ai lên Vũ Ẻn thì quên đường về), ở khúc từ Hà Tây đổ về biển qua cửa Ba Lạt, Thái Bình – sông Thao chính là sông Hồng. Cả vùng Tây Bắc vút ngàn trùng xa, hầu hết cả chục con sông, cả trăm con suối đều bắt đầu bằng chữ Nậm, vào mãi khu Bắc miền Trung như Nghệ An, ta vẫn gặp Nậm Mộ, Nậm Nơn (dòng sông làm Thuỷ điện Bản Vẽ, cuối năm 2007, chúng ta vừa mất ít nhất 18 kỹ sư và công nhân trong lòng núi dữ ở đó). Nậm Nơn, Nậm Mộ, hai con sông kỳ ảo lướt mình giữa mênh mông diệp lục của rừng Việt, rừng Lào, qua những bản làng dân tộc thiểu số sặc sỡ sắc màu (như người Ơ-đu, Đan Lai), đôi sông dữ dằn đã húc vào nhau ở ngã ba huyện Tương Dương, khai sinh ra sông Lam.

< Nơi sông Lam được sinh ra, ngã ba Nậm Mộ, Nậm Nơn thuộc địa bàn huyện Tương Dương, Nghệ An.

Nước sông Lam biết khi mô cho cạn, con sông này ăn quá sâu vào tiềm thức người quê Bác nói riêng và cả người Việt Nam nói chung; nhưng ít ai để ý rằng, “cậu/cô ta” dù được gọi là sông Cả, nhưng cả việc sinh ra, cả việc vùi mình vào với biển ở gần cầu Bến Thuỷ nổi tiếng, “đồng chí ông Lam” chưa bao giờ bò ra khỏi địa phận duy nhất một cái tỉnh Nghệ An. Kỷ lục nữa, ở quê hương câu hò Nghệ Tĩnh, ôm trong mình con sông có cái tên thơ mộng nhất Việt Nam, sông Giăng (ở Con Cuông) và con sông có cái tên… (cảm giác là) ô nhiễm nhất Việt Nam (sông Rác ở Kỳ Anh).

Mấy cái kỷ lục mà tôi mạnh dạn tấn phong nữa, đó là con sông chảy trên cao nguyên cao nhất Việt Nam, tạo nên áng tình sử núi – sông kỳ vĩ nhất: sông Nho Quế. Nếu đứng trên Mã Pí Lèng án ngữ giữa hai huyện vòi vọi của cao nguyên đá Đồng Văn – Mèo Vạc, bạn sẽ có cảm giác sông Nho Quế chỉ là một chút dung nham trắng xanh kỳ ảo, không thấy nước chảy, không thấy thác reo. Ném hòn đá lớn xuống sông, bạn sẽ không thể quan sát được viên đá bay đi đâu, và nếu nó đụng vào mặt sông thì đụng bằng cách nào, nó lăn bao lâu mới qua được vời vợi vực sâu ngàn thước len cao ngàn thước xuống giữa lởm chởm đá, tơi toang một biển mây mù kia.

< Sông Nho Quế, phần thượng du kỳ vĩ và hoang vu tột cùng, nhìn từ đỉnh Mã Pí Lèng, Hà Giang, đỉnh của cao nguyên cao nhất Việt Nam.

Tiếp: con sông chảy từ Trung Hoa vào Cao Bằng, hình như thấy cái chỗ đã cao lại còn bằng thì chảy làm sao, sông quày quả lượn sang nước bạn, để lại cái tên diễm tình “sông Quây Sơn” và hệ thống thác cao, đẹp, mĩ miều nhất mà người Việt Nam không xuất ngoại vẫn được mục sở thị: thác Bản Giốc. Chuyện về sông nó cũng dài như sông vậy. Tôi lan man muốn tổ chức tua du lịch sinh thái (nói chữ sinh thái vào cho nó “mốt”): đi đến thượng nguồn các dòng sông dữ, sông lớn, sông mang tải lịch sử nước nhà. Những chuyến đi đệ nhất gian khổ nhưng mà cũng đệ nhất sung sướng.

Ai cũng biết, sông Hồng là bầu sữa mẹ lớn nhất, là “cái bọc trăm trứng” kỳ diệu đã khai sinh ra cả nền văn minh của Châu thổ Bắc Bộ. Nền văn minh của người Việt. Sông Thao – Sông Hồng – Sông Cái – sông Mẹ, đó là vài trong số rất nhiều những cái tên thương mến, kính cẩn mà người Việt Nam đã dùng để nhắc đến Red River. Hạt phù sa màu nhiệm của sông Hồng đã nuôi dưỡng, tưới tắm cho cả châu thổ Bắc Việt Nam, cái nôi của nền văn minh Đại Việt. Tôi sinh ra ở cái ngã ba Hồng – Đà nơi hai con sông lớn hoà sắc vào nhau, tôi lớn lên ở rệ đê sông Hồng, được tưới tắm nhiều năm bởi sông Cái; nên mới gọi cái vụ liều mình lên đầu ngọn sông Hồng (địa bàn biên giới tỉnh Lào Cai) thời hoang rậm kia là một chuyến hành hương. nhưng dữ dằn hơn, hoang dại, hiểm trở và gây nhiều xúc cảm “choáng” hơn, là thượng nguồn sông Đà (trên địa bàn biên giới tỉnh Lai Châu), sông Chảy (địa bàn biên giới tỉnh Lào Cai).

Mơ màng và ghềnh thác, là thượng nguồn sông Lam (địa bàn huyện Tương Dương, Nghệ An). Sông Quây Sơn ở khúc thượng du thật diễm tình với Thác Bản Giốc (địa bàn biên giới tỉnh Cao Bằng). Nho Quế lại hoang vu, kỳ quan dựng giữ đất trời hùng vĩ, nó gợi cho con người ta cái xúc cảm vũ trụ hơn cả (địa bàn tỉnh Hà Giang) – càng “vũ trụ” thì càng thấy kiếp phận người thật nhỏ bé, và thấy con người cần những dòng sông như thế biết bao nhiêu. Miền Trung sông thường dốc, chảy ào một cái đã qua khúc ruột buốt xót nắng hạn lũ nhiều kia ra biển lớn. Miền Nam sông hiền hoà đến tẻ nhạt, sông lớn nhất như Mê Kông, trước khi vào Việt Nam lại còn ủ mình nhút nhát trong cái Biển Hồ ngờm ngợp nước.

Hoá ra, sông ngòi Việt Nam, ám ảnh người ta hơn cả là những con sông kỳ bí và dễ gây sửng sốt ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Nhưng, quê hương ai cũng có một dòng sông, sông nào chả đẹp.
Xem thêm >

Theo Đỗ Doãn Hoàng (Thangnt.blog.com)

10 công trình “bát quái” nổi tiếng VN

(Kienthuc.net.vn) - Con số 8 và hình bát giác luôn gợi liên tưởng tới “Bát quái”, một biểu tượng linh thiêng trong thuật phong thủy phương Đông.

Khám Chí Hòa

Khám Chí Hòa là một nhà tù tại số 1 đường Hòa Hưng Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, được người Pháp cho xây dựng từ năm 1943. Kiến trúc của Khám Chí Hoà rất đặc biệt, do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo ngũ hành bát quái. Nó cao ba tầng lầu có hình bát giác với 8 cạnh đều, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H. Tượng trưng cho 8 quẻ trong Kinh dịch. Cũng có ý kiến cho rằng kiến trúc này dựa trên Bát trận đồ của Khổng Minh.

Chùa Láng - Hà Nội

Chùa Láng (Chiêu Thiền tự) là ngôi chùa có từ thời Lý, được xây ở làng Láng, nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Điểm nhấn về nghệ thuật kiến trúc phong thủy của chùa là nhà bát giác ở giữa sân chùa, với mái chồng, 2 tầng, 16 mái với những đầu đao cong vút, uốn lượn rất thanh thoát. Đỉnh nóc được đắp họa tiết 4 con phượng đang múa uyển chuyển. Tầng mái bên trên đắp 8 con rồng cuộn tượng trưng cho sự tồn tại của 8 triều vua nhà Lý.

Hồ Con Rùa - TP HCM

Hồ Con Rùa là tên gọi dân gian của một vòng xoay giao thông có đài phun nước, ở trung tâm TP HCM. Công trình được xây dựng vào cuối thập niên 1960, đầu 1970 với một hồ phun nước hình bát giác lớn, có 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim. Theo các giai thoại, hồ Con Rùa là một công trình trấn yểm long mạch Sài Gòn của chính quyền Sài Gòn trước 1975.

Bảo tàng Lịch sử - TPHCM

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TPHCM, ban đầu là Bảo tàng Blanchard de la Brosse được xây dựng trong trong một khu vườn rộng lớn (sau này là Thảo Cầm Viên Sài Gòn) vào cuối thập niên 1920. Phần giữa công trình có một khối bát giác gợi nhớ quan niệm về bát quái Kinh Dịch với 2 nóc mái lợp ngói ống, có gắn vật trang trí hình phụng, hình rồng cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau.

Nhà kèn - Hà Nội

Nhà kèn ở Hà Nội được người Pháp xây dựng vào đầu thế kỷ 20 tại vườn hoa Paul Bert (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ) cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm để làm nơi diễn tập thổi kèn. Đây là công trình có hình bát giác với vườn hoa bao quanh tạo ra khung cảnh thoáng đãng, thanh bình.

Nhà kèn - Hải Phòng

Nhà kèn tại Hải Phòng là công trình kiến trúc do người Pháp xây dựng cùng thời điểm xây dựng với Nhà kèn Hà Nội để làm nơi binh lính tập chơi kèn vào chiều thứ bảy, sáng chủ nhật hàng tuần. Cả nhà kèn ở Hà Nội và Hải Phòng đều được thiết kế để âm thanh vang rất to dù không hề có tường bao. Bí quyết nằm ở thiết kế trần nhà.

Tháp Phước Duyên - Huế

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ và Cố đô Huế. Tháp bảy tầng, hình bát giác, cao 21m, xây dựng ở phía trước chùa. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng. Đây là ngọn tháp được coi là tháp bát giác cổ cao nhất ở Việt Nam.

Tháp nước Phan Thiết

Trong công viên Phan Thiết có một công trình kiến trúc độc đáo, đó là Tháp nước Phan Thiết - biểu tượng của thành phố biển Phan Thiết. Tháp được khởi công xây dựng vào cuối năm 1928 và hoàn thành vào năm 1934, do Hoàng thân Souphanouvong (1909-1995) của Lào, khi đó là Kiến trúc sư trưởng Khu Công chánh Nha Trang, thiết kế. Tháp cao 32 m, hình trụ bát giác gồm phần lầu đài và phần chân.

Hội trường Thống Nhất

Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất) được xây dựng lại từ năm 1962 theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đoạt giải Khôi nguyên La Mã (Grand Prix de Rome). Bênh cạnh các khu nhà bề thế và vuông vức, ở góc trái Dinh còn có một nhà bát giác nhỏ nhắn và thanh thoát với mái ngói cong cổ kính, được xây làm nơi hóng mát, thư giãn.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ năm 1070 ở phía Nam kinh thành Thăng Long, ngày nay là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội. Trong vườn cây phía bên trái của khu di tích là một lầu bát giác có kiến trúc rất đẹp.

Theo Kiến Thức
(Kienthuc.net.vn) - Con số 8 và hình bát giác luôn gợi liên tưởng tới “Bát quái”, một biểu tượng linh thiêng trong thuật phong thủy phương Đông.

Khám Chí Hòa

Khám Chí Hòa là một nhà tù tại số 1 đường Hòa Hưng Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, được người Pháp cho xây dựng từ năm 1943. Kiến trúc của Khám Chí Hoà rất đặc biệt, do một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo ngũ hành bát quái. Nó cao ba tầng lầu có hình bát giác với 8 cạnh đều, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H. Tượng trưng cho 8 quẻ trong Kinh dịch. Cũng có ý kiến cho rằng kiến trúc này dựa trên Bát trận đồ của Khổng Minh.

Chùa Láng - Hà Nội

Chùa Láng (Chiêu Thiền tự) là ngôi chùa có từ thời Lý, được xây ở làng Láng, nay thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội. Điểm nhấn về nghệ thuật kiến trúc phong thủy của chùa là nhà bát giác ở giữa sân chùa, với mái chồng, 2 tầng, 16 mái với những đầu đao cong vút, uốn lượn rất thanh thoát. Đỉnh nóc được đắp họa tiết 4 con phượng đang múa uyển chuyển. Tầng mái bên trên đắp 8 con rồng cuộn tượng trưng cho sự tồn tại của 8 triều vua nhà Lý.

Hồ Con Rùa - TP HCM

Hồ Con Rùa là tên gọi dân gian của một vòng xoay giao thông có đài phun nước, ở trung tâm TP HCM. Công trình được xây dựng vào cuối thập niên 1960, đầu 1970 với một hồ phun nước hình bát giác lớn, có 4 đường đi bộ xoắn ốc đồng hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim. Theo các giai thoại, hồ Con Rùa là một công trình trấn yểm long mạch Sài Gòn của chính quyền Sài Gòn trước 1975.

Bảo tàng Lịch sử - TPHCM

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TPHCM, ban đầu là Bảo tàng Blanchard de la Brosse được xây dựng trong trong một khu vườn rộng lớn (sau này là Thảo Cầm Viên Sài Gòn) vào cuối thập niên 1920. Phần giữa công trình có một khối bát giác gợi nhớ quan niệm về bát quái Kinh Dịch với 2 nóc mái lợp ngói ống, có gắn vật trang trí hình phụng, hình rồng cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau.

Nhà kèn - Hà Nội

Nhà kèn ở Hà Nội được người Pháp xây dựng vào đầu thế kỷ 20 tại vườn hoa Paul Bert (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ) cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm để làm nơi diễn tập thổi kèn. Đây là công trình có hình bát giác với vườn hoa bao quanh tạo ra khung cảnh thoáng đãng, thanh bình.

Nhà kèn - Hải Phòng

Nhà kèn tại Hải Phòng là công trình kiến trúc do người Pháp xây dựng cùng thời điểm xây dựng với Nhà kèn Hà Nội để làm nơi binh lính tập chơi kèn vào chiều thứ bảy, sáng chủ nhật hàng tuần. Cả nhà kèn ở Hà Nội và Hải Phòng đều được thiết kế để âm thanh vang rất to dù không hề có tường bao. Bí quyết nằm ở thiết kế trần nhà.

Tháp Phước Duyên - Huế

Tháp Phước Duyên là một biểu tượng nổi tiếng gắn liền với chùa Thiên Mụ và Cố đô Huế. Tháp bảy tầng, hình bát giác, cao 21m, xây dựng ở phía trước chùa. Mỗi tầng tháp đều có thờ tượng Phật. Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc dẫn lên tầng trên cùng. Đây là ngọn tháp được coi là tháp bát giác cổ cao nhất ở Việt Nam.

Tháp nước Phan Thiết

Trong công viên Phan Thiết có một công trình kiến trúc độc đáo, đó là Tháp nước Phan Thiết - biểu tượng của thành phố biển Phan Thiết. Tháp được khởi công xây dựng vào cuối năm 1928 và hoàn thành vào năm 1934, do Hoàng thân Souphanouvong (1909-1995) của Lào, khi đó là Kiến trúc sư trưởng Khu Công chánh Nha Trang, thiết kế. Tháp cao 32 m, hình trụ bát giác gồm phần lầu đài và phần chân.

Hội trường Thống Nhất

Dinh Độc Lập (nay là Hội trường Thống Nhất) được xây dựng lại từ năm 1962 theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đoạt giải Khôi nguyên La Mã (Grand Prix de Rome). Bênh cạnh các khu nhà bề thế và vuông vức, ở góc trái Dinh còn có một nhà bát giác nhỏ nhắn và thanh thoát với mái ngói cong cổ kính, được xây làm nơi hóng mát, thư giãn.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám

Văn Miếu - Quốc Tử Giám được xây dựng từ năm 1070 ở phía Nam kinh thành Thăng Long, ngày nay là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội. Trong vườn cây phía bên trái của khu di tích là một lầu bát giác có kiến trúc rất đẹp.

Theo Kiến Thức

Ăn cơm Việt trên nóc nhà Annapurna

(TTO) - Giải trí: Cơm Việt với người Việt có gì lạ? Cái khác biệt ở đây là cơm Việt và bữa cơm đậm chất Việt trên vùng nóc nhà thế giới - Annapurna.

Chuyện là sau mấy ngày trời di chuyển từ Ấn Độ sang Kathmandu, rồi Pokhara, rồi đi trekking lên đỉnh Poon Hill (Annapurna, Nepal), nhóm chúng tôi... thèm cơm nhà đến mức không chịu nổi. Trên con đường đi xuyên qua rừng đỗ quyên đang bắt đầu vào mùa hoa nở, qua mấy bản làng vắng vẻ, mấy anh chị em bàn nhau chắc phải đặt một con gà luộc cho bữa tối, phải "luộc kiểu Việt Nam", ăn cho đỡ thèm.

Nói là làm, tôi đề nghị Binot (người hướng dẫn địa phương của chúng tôi) gọi điện thoại trước cho nhà hàng ở Ghorepani nằm ở độ cao 2.860m so với mực nước biển xin đặt một con gà. Tôi dặn đi dặn lại Binot là phải nguyên một con gà, không rách rời, "chắp vá".

Nửa buổi chiều hôm đó, Binot điện thoại qua lại để xác nhận tin tốt là sẽ có một con gà phần cho chúng tôi (phải đặt chắc chắn vì chúng tôi sẽ đến điểm nghỉ chân muộn nên nếu không dặn trước, sẽ không có gì mà ăn). Nhưng tin xấu là con gà không có đầu và không có cổ, người dân ở Nepal không có thói quen giữ lại đầu và cổ nên khi làm thịt họ sẽ vứt bỏ phần không sử dụng này đi.


< Bình yên Annapurna.

Tôi kêu ca càm ràm tại sao lại không còn đầu và cổ, thế thì làm sao có thể cúng "thần phượt", bởi chúng tôi có "truyền thống" phải tự túc đồ ăn vì điểm đến thường là những vùng sâu, vùng xa, điều kiện sống khó khăn và không có nhiều dịch vụ du lịch.

Trong khoảng thời gian đầu tiên của chuyến đi, khi có điều kiện phù hợp, tất cả bạn đồng hành sẽ "nộp" các món đồ ăn mình mang theo, gom thành mâm lễ “cúng thần phượt”, cầu cho chuyến đi may mắn, an toàn, mưa thuận gió hòa và cầu cho các chuyến đi chơi sau thần cũng sẽ phù hộ.

Vì thế, chuyện con gà thiếu mất cổ và đầu có chút gì không hoàn chỉnh (mặc dù hoàn toàn là phù phiếm) khiến mọi người hơi buồn. Nhưng không sao, thích nghi là một trong những đức tính quan trọng của dân đi.

Lúc trekking qua làng Banthanti ở độ cao 2.210m so với mực nước biển, mặt trời đã bắt đầu xuống núi. Ánh nắng quái chiều hôm đã dần tắt trên những mái nhà, rừng sẫm màu và bắt đầu se lạnh. Tôi bất ngờ khi thấy có một lồng gà trên sườn núi, phía bên kia con đường, độ 3-4 con đang chen chúc mổ nhau.

Vui mừng quá đỗi, tôi nhờ Binot hỏi mua giùm một con gà sống, tối về chúng tôi sẽ tự tay thịt gà, việc này hẳn mấy bạn đồng hành của tôi cũng khéo xử lý mà thôi. Sau một hồi "giao dịch", Binot đã hỏi mua được một cô gà mái với giá cả rất phải chăng, ở một nơi xa xôi đến thế, 1.000 rupiah tức chưa đến 250.000 đồng.

< Niềm vui khi mua được con gà.

Trong khi các bạn cười nói hồ hởi và tưởng tượng đến bữa tối thịnh soạn thì tôi đi tìm một bao tải dứa để có thể đựng con gà quý giá trên đường lên làng Ghorepani. Dọc đường, Binot cứ dành cho tôi nụ cười vô cùng tò mò, trong đầu chắc đang tự hỏi mấy vị khách sẽ bày trò gì với con gà.

Một bạn trong nhóm hái một bông hoa đỗ quyên hồng thắm nở rất to và đẹp trên đường, dự định thay cho bông hoa hồng mẹ vẫn hay sử dụng cho mâm cúng ở nhà.

Tối mịt chúng tôi mới tới được Ghorepani. Sau khi cất đồ vào phòng, tôi và một bạn trai được phân công đi thịt gà với sự giúp đỡ của cậu khuân vác đã đồng hành cùng chúng tôi từ Nayapool. Đường dẫn nước nằm bên ngoài bếp, và trong điều kiện thời tiết ban đêm đang hạ xuống 1-2 độ C, chúng tôi đã làm thịt được con gà theo đúng cách cổ truyền Việt Nam.

Mọi người vào bếp và với sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của mấy người phụ nữ Nepal, bắc bếp tự tay luộc gà, luộc cải bắp, trứng gà và chiên khoai tây.

Kèm theo một chai nước mắm bé xíu hảo hạng cẩn thận mang đi từ Việt Nam và ăn uống dè sẻn trong mấy ngày qua, một chút muối ớt xanh đỏ cay sực trong đêm lạnh, mấy quả quýt rừng hái trên cây khi qua vùng Ullere, bông hoa đỗ quyên rạng rỡ trên đĩa thịt gà, chúng tôi đã có một mâm cơm “cúng thần phượt” đáng giá.

< Bữa cơm Việt Annapurna.

Mấy vị khách cùng nơi nghỉ, sau bữa tối đang ngồi sưởi ấm quanh bếp lò, tò mò nhìn đám khách với một bàn ăn khá khác thường đang vô cùng hớn hở và tíu tít. Chúng tôi cùng người hướng dẫn địa phương và cậu khuân vác ngồi quanh chiếc bàn ăn trải khăn kẻ ấm áp, cầu thần phượt phù hộ cho chuyến đi được thuận lợi bình an rồi bắt đầu bữa cơm Việt ở một nơi cách xa nhà hàng ngàn kilômet.

Hai người bạn địa phương nhanh chóng nhập cuộc bằng cách xé thịt gà và chấm mắm ớt như mấy người Việt Nam, không một chút e dè. Gà trên núi nên thịt có hơi dai và chắc nịch, nhưng cũng không hề gì, chúng tôi chắc chắn không mong đợi gì hơn...

Tôi đã nhớ mãi, nhớ mãi những khoảnh khắc bạn đồng hành quây quần bên bàn ăn, bên cạnh là bếp lò ấm sực trên vùng đất được mệnh danh là nóc nhà thế giới. Bình yên Annapurna.
Xem thêm >

Theo Thủy Trần (báo Tuổi Trẻ)
(TTO) - Giải trí: Cơm Việt với người Việt có gì lạ? Cái khác biệt ở đây là cơm Việt và bữa cơm đậm chất Việt trên vùng nóc nhà thế giới - Annapurna.

Chuyện là sau mấy ngày trời di chuyển từ Ấn Độ sang Kathmandu, rồi Pokhara, rồi đi trekking lên đỉnh Poon Hill (Annapurna, Nepal), nhóm chúng tôi... thèm cơm nhà đến mức không chịu nổi. Trên con đường đi xuyên qua rừng đỗ quyên đang bắt đầu vào mùa hoa nở, qua mấy bản làng vắng vẻ, mấy anh chị em bàn nhau chắc phải đặt một con gà luộc cho bữa tối, phải "luộc kiểu Việt Nam", ăn cho đỡ thèm.

Nói là làm, tôi đề nghị Binot (người hướng dẫn địa phương của chúng tôi) gọi điện thoại trước cho nhà hàng ở Ghorepani nằm ở độ cao 2.860m so với mực nước biển xin đặt một con gà. Tôi dặn đi dặn lại Binot là phải nguyên một con gà, không rách rời, "chắp vá".

Nửa buổi chiều hôm đó, Binot điện thoại qua lại để xác nhận tin tốt là sẽ có một con gà phần cho chúng tôi (phải đặt chắc chắn vì chúng tôi sẽ đến điểm nghỉ chân muộn nên nếu không dặn trước, sẽ không có gì mà ăn). Nhưng tin xấu là con gà không có đầu và không có cổ, người dân ở Nepal không có thói quen giữ lại đầu và cổ nên khi làm thịt họ sẽ vứt bỏ phần không sử dụng này đi.


< Bình yên Annapurna.

Tôi kêu ca càm ràm tại sao lại không còn đầu và cổ, thế thì làm sao có thể cúng "thần phượt", bởi chúng tôi có "truyền thống" phải tự túc đồ ăn vì điểm đến thường là những vùng sâu, vùng xa, điều kiện sống khó khăn và không có nhiều dịch vụ du lịch.

Trong khoảng thời gian đầu tiên của chuyến đi, khi có điều kiện phù hợp, tất cả bạn đồng hành sẽ "nộp" các món đồ ăn mình mang theo, gom thành mâm lễ “cúng thần phượt”, cầu cho chuyến đi may mắn, an toàn, mưa thuận gió hòa và cầu cho các chuyến đi chơi sau thần cũng sẽ phù hộ.

Vì thế, chuyện con gà thiếu mất cổ và đầu có chút gì không hoàn chỉnh (mặc dù hoàn toàn là phù phiếm) khiến mọi người hơi buồn. Nhưng không sao, thích nghi là một trong những đức tính quan trọng của dân đi.

Lúc trekking qua làng Banthanti ở độ cao 2.210m so với mực nước biển, mặt trời đã bắt đầu xuống núi. Ánh nắng quái chiều hôm đã dần tắt trên những mái nhà, rừng sẫm màu và bắt đầu se lạnh. Tôi bất ngờ khi thấy có một lồng gà trên sườn núi, phía bên kia con đường, độ 3-4 con đang chen chúc mổ nhau.

Vui mừng quá đỗi, tôi nhờ Binot hỏi mua giùm một con gà sống, tối về chúng tôi sẽ tự tay thịt gà, việc này hẳn mấy bạn đồng hành của tôi cũng khéo xử lý mà thôi. Sau một hồi "giao dịch", Binot đã hỏi mua được một cô gà mái với giá cả rất phải chăng, ở một nơi xa xôi đến thế, 1.000 rupiah tức chưa đến 250.000 đồng.

< Niềm vui khi mua được con gà.

Trong khi các bạn cười nói hồ hởi và tưởng tượng đến bữa tối thịnh soạn thì tôi đi tìm một bao tải dứa để có thể đựng con gà quý giá trên đường lên làng Ghorepani. Dọc đường, Binot cứ dành cho tôi nụ cười vô cùng tò mò, trong đầu chắc đang tự hỏi mấy vị khách sẽ bày trò gì với con gà.

Một bạn trong nhóm hái một bông hoa đỗ quyên hồng thắm nở rất to và đẹp trên đường, dự định thay cho bông hoa hồng mẹ vẫn hay sử dụng cho mâm cúng ở nhà.

Tối mịt chúng tôi mới tới được Ghorepani. Sau khi cất đồ vào phòng, tôi và một bạn trai được phân công đi thịt gà với sự giúp đỡ của cậu khuân vác đã đồng hành cùng chúng tôi từ Nayapool. Đường dẫn nước nằm bên ngoài bếp, và trong điều kiện thời tiết ban đêm đang hạ xuống 1-2 độ C, chúng tôi đã làm thịt được con gà theo đúng cách cổ truyền Việt Nam.

Mọi người vào bếp và với sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của mấy người phụ nữ Nepal, bắc bếp tự tay luộc gà, luộc cải bắp, trứng gà và chiên khoai tây.

Kèm theo một chai nước mắm bé xíu hảo hạng cẩn thận mang đi từ Việt Nam và ăn uống dè sẻn trong mấy ngày qua, một chút muối ớt xanh đỏ cay sực trong đêm lạnh, mấy quả quýt rừng hái trên cây khi qua vùng Ullere, bông hoa đỗ quyên rạng rỡ trên đĩa thịt gà, chúng tôi đã có một mâm cơm “cúng thần phượt” đáng giá.

< Bữa cơm Việt Annapurna.

Mấy vị khách cùng nơi nghỉ, sau bữa tối đang ngồi sưởi ấm quanh bếp lò, tò mò nhìn đám khách với một bàn ăn khá khác thường đang vô cùng hớn hở và tíu tít. Chúng tôi cùng người hướng dẫn địa phương và cậu khuân vác ngồi quanh chiếc bàn ăn trải khăn kẻ ấm áp, cầu thần phượt phù hộ cho chuyến đi được thuận lợi bình an rồi bắt đầu bữa cơm Việt ở một nơi cách xa nhà hàng ngàn kilômet.

Hai người bạn địa phương nhanh chóng nhập cuộc bằng cách xé thịt gà và chấm mắm ớt như mấy người Việt Nam, không một chút e dè. Gà trên núi nên thịt có hơi dai và chắc nịch, nhưng cũng không hề gì, chúng tôi chắc chắn không mong đợi gì hơn...

Tôi đã nhớ mãi, nhớ mãi những khoảnh khắc bạn đồng hành quây quần bên bàn ăn, bên cạnh là bếp lò ấm sực trên vùng đất được mệnh danh là nóc nhà thế giới. Bình yên Annapurna.
Xem thêm >

Theo Thủy Trần (báo Tuổi Trẻ)