Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng

Săn cá giữa rừng U Minh Thượng

(ĐVO) - U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang) là khu căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Thế nhưng, ngày nay U Minh Thượng là điểm đến hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ nhưng độc đáo của rừng tràm.

< Vườn quốc gia U Minh Thượng với vẻ đẹp hoang sơ và độc đáo của rừng Tràm.

Về tới ngã ba Rạch Sỏi (Kiên Giang), theo quốc lộ 61 tới thị trấn Minh Lương, qua phà Tắc Cậu, đi theo quốc lộ 63 tới chợ Thứ 7, rẽ trái về ấp Cạn Ngọn, xã Thanh Yên, huyện An Biên (Kiên Giang) là tới Vườn quốc gia U Minh Thượng.

< Du khách có thể tham quan tận sâu trong vùng lõi rừng bằng vỏ lãi.

Từ tháng 4/2004, vườn quốc gia này bắt đầu khai thác du lịch và mở dịch vụ câu cá trong rừng. Câu cá cả ngày chỉ mất 40.000 đồng/người. Nếu không câu, khách có thể thuê vỏ lải của khu du lịch vào sâu trong các trảng lớn của rừng với giá 20.000 đồng/người.

Đúng 5 giờ sáng, phòng vé mở cửa bán vé vào rừng. Đến đây, các hướng dẫn viên sẽ đưa du khách đi sâu vào vùng lõi của rừng để câu cá hoặc tham quan. Từ bến ghe vào một điểm câu trung bình mất khoảng hơn 1 giờ đồng hồ qua các kênh rạch chính. Hai bên dọc bờ kênh là rừng lau sậy ngút ngàn, rừng tràm thăm thẳm trong mây. Người mới đến lần đầu sẽ có cảm giác lạc lõng, nhỏ bé trong một thế giới mênh mang. Càng đi càng thấy rộng lớn, không một bóng người. Chim, cá tự do sinh sôi nảy nở, đời này qua đời khác.

< Một khách câu tận sâu trong lõi rừng U Minh Thượng.

Một hướng dẫn viên du lịch của Vườn quốc gia U Minh Thượng, cho biết khách du lịch câu cá phần lớn tự mang theo câu, mồi. Cá câu được, du khách mang về hoặc ăn tại chỗ. Họ có thể dễ dàng câu được cá rô gai cỡ lớn xấp xỉ 200 gram. Cá lóc nhiều con to bằng bắp chân, nặng 3 - 4kg.

Du khách sẽ có cảm giác như sống lại thời khẩn hoang khi ngồi dưới tán rừng tràm nướng cá lóc, rắn bông súng chấm với muối hột đâm nát, dầm ớt hiểm xanh ăn lai rai. Rau rừng ở đây rất phong phú, du khách có thể tìm hái lá sen non, bông súng ma, bông lục bình,...

< Chim, cá tự do sinh sôi nảy nở, đời này qua đời khác ở U Minh Thượng.

Tuy nhiên, theo ý kiến của một cán bộ tại đây, chỉ sợ cá không kịp sinh sản để phục vụ nhu cầu săn cá cho du khách. Lúc mới mở cửa, du khách có thể dễ dàng câu được cá lóc 3 - 4kg/con nhưng nay cá lớn dần hiếm hơn. Vườn quốc gia cần phải dành riêng một khu vực cấm săn bắt để đàn cá có điều kiện sinh sản, phục hồi.

Một vấn đề nhức nhối khác khi mở cửa cho du khách tham quan khiến Vườn quốc gia U Minh Thượng đang tràn ngập rác thải, nhất là vỏ chai đựng nước uống và túi nylon. Đây là hai loại rác rất khó phân hủy. Ban quản lý cũng đã có những biển cảnh báo để du khách ý thức với việc vứt rác thải nhằm bảo tồn khu rừng nguyên sinh.

< Cá câu được có thể nướng ăn tại chỗ.

Nếu không câu, khách có thể thuê vỏ lải của khu du lịch đến các trảng lớn trong rừng thăm láng dơi, láng chim với giá 20.000 đồng/người. Một cán bộ Vườn quốc gia U Minh Thượng cho biết, vườn quốc gia U Minh Thượng rộng 8.036 ha, hiện bảo tồn 186 loài chim trong hơn 500 loài động vật, trong đó có rái cá lông mũi, mèo cá, dơi ngựa lớn, sóc lửa, sóc đuôi ngựa,...Du khách đến đây có thể nghe chim kêu, vượn hót.

Hiện bình quân Vườn quốc gia U Minh Thượng tiếp đón, phục vụ khoảng hơn 2.000 du khách/tháng. Qua từng năm, số lượng du khách đến đây cứ tăng dần lên.

< Không lấy gì ngoài những bức ảnh, không để lại gì ngoài những dấu chân.

Du khách đến đây có thể nghỉ lại các khu nhà nghỉ, khách sạn ngay tại ấp Công Sự, xã An Minh Bắc (huyện U Minh Thượng), hoặc nghỉ ngay trong những tum nhà trọ giữa rừng. Khi đêm về, ngồi quanh bếp lửa hồng trong rừng tràm hay ngả lưng trên chiếc ghế mây của khu nhà sàn ẩm thực, du khách sẽ được nghe những người dân địa phương, những “lão lâm” một thời ngang dọc trên những cánh rừng bạt ngàn tràm hoang, lau sậy kể chuyện đường rừng.

Giữa rừng khuya hoang vắng lạnh lẽo, bên ánh lửa bập bùng nghe tiếng gió thổi vi vu qua đồng bưng, đầm lầy cùng với thi thoảng tiếng chim kêu, khỉ hú, du khách như thấy lại thời quá khứ, thuở tiền nhân ta khai khẩn đất phương Nam.
Xem nguồn >

Theo Bình Nguyên (báo Đất Việt)
(ĐVO) - U Minh Thượng (tỉnh Kiên Giang) là khu căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Thế nhưng, ngày nay U Minh Thượng là điểm đến hấp dẫn du khách bởi vẻ đẹp hoang sơ nhưng độc đáo của rừng tràm.

< Vườn quốc gia U Minh Thượng với vẻ đẹp hoang sơ và độc đáo của rừng Tràm.

Về tới ngã ba Rạch Sỏi (Kiên Giang), theo quốc lộ 61 tới thị trấn Minh Lương, qua phà Tắc Cậu, đi theo quốc lộ 63 tới chợ Thứ 7, rẽ trái về ấp Cạn Ngọn, xã Thanh Yên, huyện An Biên (Kiên Giang) là tới Vườn quốc gia U Minh Thượng.

< Du khách có thể tham quan tận sâu trong vùng lõi rừng bằng vỏ lãi.

Từ tháng 4/2004, vườn quốc gia này bắt đầu khai thác du lịch và mở dịch vụ câu cá trong rừng. Câu cá cả ngày chỉ mất 40.000 đồng/người. Nếu không câu, khách có thể thuê vỏ lải của khu du lịch vào sâu trong các trảng lớn của rừng với giá 20.000 đồng/người.

Đúng 5 giờ sáng, phòng vé mở cửa bán vé vào rừng. Đến đây, các hướng dẫn viên sẽ đưa du khách đi sâu vào vùng lõi của rừng để câu cá hoặc tham quan. Từ bến ghe vào một điểm câu trung bình mất khoảng hơn 1 giờ đồng hồ qua các kênh rạch chính. Hai bên dọc bờ kênh là rừng lau sậy ngút ngàn, rừng tràm thăm thẳm trong mây. Người mới đến lần đầu sẽ có cảm giác lạc lõng, nhỏ bé trong một thế giới mênh mang. Càng đi càng thấy rộng lớn, không một bóng người. Chim, cá tự do sinh sôi nảy nở, đời này qua đời khác.

< Một khách câu tận sâu trong lõi rừng U Minh Thượng.

Một hướng dẫn viên du lịch của Vườn quốc gia U Minh Thượng, cho biết khách du lịch câu cá phần lớn tự mang theo câu, mồi. Cá câu được, du khách mang về hoặc ăn tại chỗ. Họ có thể dễ dàng câu được cá rô gai cỡ lớn xấp xỉ 200 gram. Cá lóc nhiều con to bằng bắp chân, nặng 3 - 4kg.

Du khách sẽ có cảm giác như sống lại thời khẩn hoang khi ngồi dưới tán rừng tràm nướng cá lóc, rắn bông súng chấm với muối hột đâm nát, dầm ớt hiểm xanh ăn lai rai. Rau rừng ở đây rất phong phú, du khách có thể tìm hái lá sen non, bông súng ma, bông lục bình,...

< Chim, cá tự do sinh sôi nảy nở, đời này qua đời khác ở U Minh Thượng.

Tuy nhiên, theo ý kiến của một cán bộ tại đây, chỉ sợ cá không kịp sinh sản để phục vụ nhu cầu săn cá cho du khách. Lúc mới mở cửa, du khách có thể dễ dàng câu được cá lóc 3 - 4kg/con nhưng nay cá lớn dần hiếm hơn. Vườn quốc gia cần phải dành riêng một khu vực cấm săn bắt để đàn cá có điều kiện sinh sản, phục hồi.

Một vấn đề nhức nhối khác khi mở cửa cho du khách tham quan khiến Vườn quốc gia U Minh Thượng đang tràn ngập rác thải, nhất là vỏ chai đựng nước uống và túi nylon. Đây là hai loại rác rất khó phân hủy. Ban quản lý cũng đã có những biển cảnh báo để du khách ý thức với việc vứt rác thải nhằm bảo tồn khu rừng nguyên sinh.

< Cá câu được có thể nướng ăn tại chỗ.

Nếu không câu, khách có thể thuê vỏ lải của khu du lịch đến các trảng lớn trong rừng thăm láng dơi, láng chim với giá 20.000 đồng/người. Một cán bộ Vườn quốc gia U Minh Thượng cho biết, vườn quốc gia U Minh Thượng rộng 8.036 ha, hiện bảo tồn 186 loài chim trong hơn 500 loài động vật, trong đó có rái cá lông mũi, mèo cá, dơi ngựa lớn, sóc lửa, sóc đuôi ngựa,...Du khách đến đây có thể nghe chim kêu, vượn hót.

Hiện bình quân Vườn quốc gia U Minh Thượng tiếp đón, phục vụ khoảng hơn 2.000 du khách/tháng. Qua từng năm, số lượng du khách đến đây cứ tăng dần lên.

< Không lấy gì ngoài những bức ảnh, không để lại gì ngoài những dấu chân.

Du khách đến đây có thể nghỉ lại các khu nhà nghỉ, khách sạn ngay tại ấp Công Sự, xã An Minh Bắc (huyện U Minh Thượng), hoặc nghỉ ngay trong những tum nhà trọ giữa rừng. Khi đêm về, ngồi quanh bếp lửa hồng trong rừng tràm hay ngả lưng trên chiếc ghế mây của khu nhà sàn ẩm thực, du khách sẽ được nghe những người dân địa phương, những “lão lâm” một thời ngang dọc trên những cánh rừng bạt ngàn tràm hoang, lau sậy kể chuyện đường rừng.

Giữa rừng khuya hoang vắng lạnh lẽo, bên ánh lửa bập bùng nghe tiếng gió thổi vi vu qua đồng bưng, đầm lầy cùng với thi thoảng tiếng chim kêu, khỉ hú, du khách như thấy lại thời quá khứ, thuở tiền nhân ta khai khẩn đất phương Nam.
Xem nguồn >

Theo Bình Nguyên (báo Đất Việt)

Thiên nhiên đa sắc ở VQG Núi Chúa

(DNSG) - nước ta, có một vùng rừng núi đã gây kinh ngạc cho các nhà khoa học bởi một nửa diện tích rừng khô hạn không khác gì châu Phi, nửa còn lại là những cánh rừng mưa nhiệt đới xanh tươi với hàng trăm loài sinh vật sinh sống.

< Một góc núi rừng của vườn quốc gia Núi Chúa - Ninh Thuận.

Một lần đến thăm Vườn quốc gia (VQG) Núi Chúa ở Ninh Thuận, chúng tôi đã được hòa mình cùng với thiên nhiên hoang dã và học hỏi nhiều điều từ người dân Raglay hiền hòa, thân thiện.

Ban mai trên những cánh rừng

< Bãi Thùng ở Vườn Quốc gia Núi Chúa.

Từ trụ sở VQG, phải mất đến 30 phút đi trên con đường ngoằn ngoèo men theo sườn núi sát biển qua nhiều đoạn dốc đứng, chiếc xe bus mới đưa chúng tôi đến được khu vực nghiên cứu.
Chẳng bao lâu sau khi mặt trời ửng hồng rực rỡ phía chân trời, những tia nắng vàng dịu đầu tiên chiếu vào vách núi đá trơ trọi, dựng đứng ở vùng đệm của VQG.

< Cây Đa Phan Rang - Chụp tại độ cao 620m tại tiểu khu 157 - VQG Núi chúa.

Phía dưới, biển xanh rì rào sóng vỗ. Cư dân đầu tiên của Vườn quốc gia chào đón chúng tôi là một nàng chim bói cá đang đứng chót vót trên mỏm đá chênh vênh cao ngất, chim nhìn ra hướng biển, nơi đem lại cho dòng họ nhà bói cá một cuộc mưu sinh đầy khó khăn - nhất là vào những ngày biển động.

Mùa này, những bông hoa mà-ca, một loài thực vật chịu hạn rất giỏi và phổ biến nơi đây thi nhau khoe sắc. Những chùm hoa màu trắng ngạt ngào hương thơm lan tỏa được gió mang đi khắp nơi.


< Đá trứng trồng - Vườn Quốc gia Núi Chúa.

Nhờ gió biển, mật hoa đã khiến loài ong mật tìm đến, thụ phấn cho cây trong ánh bình minh chói lọi. Chỉ vài tiếng nữa, khi mặt trời lên cao, chùm hoa mà-ca cũng sẽ cụp lại để tránh thoát nước. Vì thế, mật ngọt của hoa này chỉ dành cho những loài cần mẫn, biết thức dậy từ rất sớm như loài ong.

Rồi chúng tôi đến với biểu tượng độc đáo nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho VQG Núi Chúa: Một tảng đá chồng khổng lồ đứng trên một tảng đá nhỏ hơn như một lời thách thức ngạo nghễ với thời gian, thách thức những cơn gió cát, bão biển để đứng vững nơi đây từ ngàn đời và tạo nên nét chấm phá độc đáo cho thiên nhiên Núi Chúa.

Bao quanh “kỳ quan” này là cả khu rừng khô hạn trải dài với nhiều loài thực vật đầy gai sinh tồn. Phía xa, những dãy núi mờ sương cao ngất đang vừa như mời gọi, lại như đang thách thức bước chân của cả đoàn.

Sức sống trong hoang mạc

Mặc cho ánh nắng đã bắt đầu thiêu đốt, mọi người tiến bước về phía trước. Hầu hết các loài thực vật ở phần rừng khô hạn như sa mạc này là những bụi cây thấp gốc to, tạo thành những tán rất rộng để chống chọi với những cơn gió khô và mạnh.

< Suối Bà cơ - Vườn Quốc gia Núi Chúa.

Các loài thực vật đều có lá dày, hay thân hình xù xì, gai góc rất đặc trưng cho thực vật biển khô hạn. Ẩn mình trong đám lá xanh là loài rắn roi mũi đang ngon giấc sau một đêm mệt nhoài tìm kiếm thức ăn. Loài rắn này có thân hình khá kỳ dị do phải thích nghi với việc leo trèo săn mồi trên cây. Thân rắn chỉ to bằng chiếc bút chì nhưng chiều dài gần 1,5m khiến nó trở nên “dị hợm” so với các loài rắn khác.

Vượt lên qua hai ngọn núi thấp, đến độ cao 180 mét so với mực nước biển, chúng tôi đã bắt đầu cảm nhận được sự rát bỏng của ánh nắng gay gắt. Bên dòng suối nhỏ, nơi cây dẻ già nua khoe bộ rễ xù xì cùng năm tháng vô tình tạo cho chúng tôi một chỗ ngồi tránh nắng.

< Ao Hồ. Một hồ nằm ở độ cao khoảng 300m so với mặt nước biển, thuộc tiểu Khu 150 VQG Núi Chúa. đây là một hiện tượng độc đáo vì quanh năm không bao giờ hết nước.

Từ đó ngước nhìn lên, chúng tôi bắt gặp một chùm lan môi trắng đặc hữu đang khoe sắc trong sự khô cằn và nóng bỏng. Loài lan này được một nhà khoa học người Hà Lan mới phát hiện năm 2001 trong VQG Núi Chúa. Đây là loài lan phụ sinh duy nhất có thể sinh sống tươi tốt đến không ngờ trong điều kiện khắc nghiệt như thế này.

Cả đoàn tiếp tục vượt qua một vài đỉnh núi thấp nữa. Phía trước hiện ra một thung lũng nhỏ với nhiều cây cối rậm rạp và xanh tươi. Dòng suối khá lớn với nhiều tảng đá mẹ rất lớn nằm chất đống. Chảy ngầm bên dưới là dòng nước đủ để những người dân Raglay đắp thành một chiếc đập nhỏ.

Nước được dẫn vào đám ruộng lúa đang thì con gái xanh rờn. Nơi này trước kia là một ngôi làng nhỏ của đồng bào Raglay sinh sống và trồng tỉa, nhưng từ khi có chính sách di dời, họ được chuyển đến sống trong những ngôi nhà mới khang trang và tiện nghi hơn nằm sát bờ biển. Hiện nay, ban quản lý vườn quốc gia vẫn cho phép đồng bào Raglay canh tác trên đám ruộng này để cải thiện đời sống.

Chúng tôi quyết định nghỉ ăn trưa để lấy sức đi tiếp. Tiếng suối chảy róc rách cùng những cơn gió rừng khiến cả đoàn chìm vào giấc ngủ rất nhanh…

Theo Phùng Mỹ Trung (báo Doanh Nhân Sàigòn) - ảnh Caycanhvietnam


Thông tin và chuyến đi về rừng QG Núi Chúa có nhiều trong i-dulich, bạn hãy search bằng cụm từ 'núi Chúa'.
(DNSG) - nước ta, có một vùng rừng núi đã gây kinh ngạc cho các nhà khoa học bởi một nửa diện tích rừng khô hạn không khác gì châu Phi, nửa còn lại là những cánh rừng mưa nhiệt đới xanh tươi với hàng trăm loài sinh vật sinh sống.

< Một góc núi rừng của vườn quốc gia Núi Chúa - Ninh Thuận.

Một lần đến thăm Vườn quốc gia (VQG) Núi Chúa ở Ninh Thuận, chúng tôi đã được hòa mình cùng với thiên nhiên hoang dã và học hỏi nhiều điều từ người dân Raglay hiền hòa, thân thiện.

Ban mai trên những cánh rừng

< Bãi Thùng ở Vườn Quốc gia Núi Chúa.

Từ trụ sở VQG, phải mất đến 30 phút đi trên con đường ngoằn ngoèo men theo sườn núi sát biển qua nhiều đoạn dốc đứng, chiếc xe bus mới đưa chúng tôi đến được khu vực nghiên cứu.
Chẳng bao lâu sau khi mặt trời ửng hồng rực rỡ phía chân trời, những tia nắng vàng dịu đầu tiên chiếu vào vách núi đá trơ trọi, dựng đứng ở vùng đệm của VQG.

< Cây Đa Phan Rang - Chụp tại độ cao 620m tại tiểu khu 157 - VQG Núi chúa.

Phía dưới, biển xanh rì rào sóng vỗ. Cư dân đầu tiên của Vườn quốc gia chào đón chúng tôi là một nàng chim bói cá đang đứng chót vót trên mỏm đá chênh vênh cao ngất, chim nhìn ra hướng biển, nơi đem lại cho dòng họ nhà bói cá một cuộc mưu sinh đầy khó khăn - nhất là vào những ngày biển động.

Mùa này, những bông hoa mà-ca, một loài thực vật chịu hạn rất giỏi và phổ biến nơi đây thi nhau khoe sắc. Những chùm hoa màu trắng ngạt ngào hương thơm lan tỏa được gió mang đi khắp nơi.


< Đá trứng trồng - Vườn Quốc gia Núi Chúa.

Nhờ gió biển, mật hoa đã khiến loài ong mật tìm đến, thụ phấn cho cây trong ánh bình minh chói lọi. Chỉ vài tiếng nữa, khi mặt trời lên cao, chùm hoa mà-ca cũng sẽ cụp lại để tránh thoát nước. Vì thế, mật ngọt của hoa này chỉ dành cho những loài cần mẫn, biết thức dậy từ rất sớm như loài ong.

Rồi chúng tôi đến với biểu tượng độc đáo nhất mà tạo hóa đã ban tặng cho VQG Núi Chúa: Một tảng đá chồng khổng lồ đứng trên một tảng đá nhỏ hơn như một lời thách thức ngạo nghễ với thời gian, thách thức những cơn gió cát, bão biển để đứng vững nơi đây từ ngàn đời và tạo nên nét chấm phá độc đáo cho thiên nhiên Núi Chúa.

Bao quanh “kỳ quan” này là cả khu rừng khô hạn trải dài với nhiều loài thực vật đầy gai sinh tồn. Phía xa, những dãy núi mờ sương cao ngất đang vừa như mời gọi, lại như đang thách thức bước chân của cả đoàn.

Sức sống trong hoang mạc

Mặc cho ánh nắng đã bắt đầu thiêu đốt, mọi người tiến bước về phía trước. Hầu hết các loài thực vật ở phần rừng khô hạn như sa mạc này là những bụi cây thấp gốc to, tạo thành những tán rất rộng để chống chọi với những cơn gió khô và mạnh.

< Suối Bà cơ - Vườn Quốc gia Núi Chúa.

Các loài thực vật đều có lá dày, hay thân hình xù xì, gai góc rất đặc trưng cho thực vật biển khô hạn. Ẩn mình trong đám lá xanh là loài rắn roi mũi đang ngon giấc sau một đêm mệt nhoài tìm kiếm thức ăn. Loài rắn này có thân hình khá kỳ dị do phải thích nghi với việc leo trèo săn mồi trên cây. Thân rắn chỉ to bằng chiếc bút chì nhưng chiều dài gần 1,5m khiến nó trở nên “dị hợm” so với các loài rắn khác.

Vượt lên qua hai ngọn núi thấp, đến độ cao 180 mét so với mực nước biển, chúng tôi đã bắt đầu cảm nhận được sự rát bỏng của ánh nắng gay gắt. Bên dòng suối nhỏ, nơi cây dẻ già nua khoe bộ rễ xù xì cùng năm tháng vô tình tạo cho chúng tôi một chỗ ngồi tránh nắng.

< Ao Hồ. Một hồ nằm ở độ cao khoảng 300m so với mặt nước biển, thuộc tiểu Khu 150 VQG Núi Chúa. đây là một hiện tượng độc đáo vì quanh năm không bao giờ hết nước.

Từ đó ngước nhìn lên, chúng tôi bắt gặp một chùm lan môi trắng đặc hữu đang khoe sắc trong sự khô cằn và nóng bỏng. Loài lan này được một nhà khoa học người Hà Lan mới phát hiện năm 2001 trong VQG Núi Chúa. Đây là loài lan phụ sinh duy nhất có thể sinh sống tươi tốt đến không ngờ trong điều kiện khắc nghiệt như thế này.

Cả đoàn tiếp tục vượt qua một vài đỉnh núi thấp nữa. Phía trước hiện ra một thung lũng nhỏ với nhiều cây cối rậm rạp và xanh tươi. Dòng suối khá lớn với nhiều tảng đá mẹ rất lớn nằm chất đống. Chảy ngầm bên dưới là dòng nước đủ để những người dân Raglay đắp thành một chiếc đập nhỏ.

Nước được dẫn vào đám ruộng lúa đang thì con gái xanh rờn. Nơi này trước kia là một ngôi làng nhỏ của đồng bào Raglay sinh sống và trồng tỉa, nhưng từ khi có chính sách di dời, họ được chuyển đến sống trong những ngôi nhà mới khang trang và tiện nghi hơn nằm sát bờ biển. Hiện nay, ban quản lý vườn quốc gia vẫn cho phép đồng bào Raglay canh tác trên đám ruộng này để cải thiện đời sống.

Chúng tôi quyết định nghỉ ăn trưa để lấy sức đi tiếp. Tiếng suối chảy róc rách cùng những cơn gió rừng khiến cả đoàn chìm vào giấc ngủ rất nhanh…

Theo Phùng Mỹ Trung (báo Doanh Nhân Sàigòn) - ảnh Caycanhvietnam


Thông tin và chuyến đi về rừng QG Núi Chúa có nhiều trong i-dulich, bạn hãy search bằng cụm từ 'núi Chúa'.

Thác Bay giữa đại ngàn Ea Sô

Thác Bay là một thác nước đẹp ở xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Đây là một thắng cảnh đẹp, hoang sơ giữa núi rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, nằm cách trụ sở Ban quản lý khu bảo tồn khoảng 15 km, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn.

< Thác Bay ở Ea Sô.

Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô được thành lập tháng 7 năm 1999 với tổng diện tích tự nhiên là 27.800 ha, chia làm ba khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng 15.959ha; phân khu phục hồi sinh thái 9.816 ha và phân khu dịch vụ hành chính 2.025 ha.

< Dòng nước từ thác tạo ra con suối.

Theo số liệu thống kê thì khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô có tất cả 709 loài với 139 họ, thuộc các ngành như: thông, dương xỉ và ngọc lan; hệ động vật có 44 loài thú, 158 loài chim, 23 loài bò sát, 7 loài ếch nhái, trong đó có những loài chim, thú đặc biệt quý hiếm như: beo lúa, voi, cheo, bò tót, gấu chó, gấu ngựa, sóc đỏ, vượn đen, khỉ mặt đỏ, gà lôi trắng…

< Cảnh vật cực kỳ hoang sơ.

Trong số loài động vật sống ở khu bảo tồn có 22 loài quý hiếm được ghi tên trong Sách Đỏ của Việt Nam và thế giới. Ngoài động thực vật quí hiếm, khu bảo tồn còn là khu rừng sinh thái đẹp với dòng thác âm thầm chảy từ bao đời nay.

Thác được hình thành trên một dòng suối nhỏ hiền hòa trong mùa khô nhưng hung dữ vào mùa mưa, nằm hoang sơ giữa những cây rừng thuộc họ có rễ phụ đan kín trông rất lạ mắt.

Thác với cột nước đổ trên cao khoảng 20 m đổ xuống một mặt hồ rộng và sâu, tung bọt trắng xóa rồi trở về lại với dòng chảy hiền hòa, uốn lượn giữa đại ngàn Ea Sô xanh thẳm.

So với các thác nước khác của Đắk Lắk như thác Gia Long, thác Krông Kmar..., thác Bay ít được mọi người biết đến do không thuận tiện về đường đi lại và nằm trong khu Bảo tồn nên việc khai thác du lịch còn đang rất hạn chế.

Vậy nhưng đây lại chính là điểm mạnh của thác Bay vì đến với thác này, du khách sẽ được thưởng ngoạn một thắng cảnh hoàn toàn còn hoang dã và được trở về với thiên nhiên thật trọn vẹn.

Thác Bay là một thác nước đẹp ở xã Ea Sô, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk. Đây là một thắng cảnh đẹp, hoang sơ giữa núi rừng của Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô, nằm cách trụ sở Ban quản lý khu bảo tồn khoảng 15 km, thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn.

< Thác Bay ở Ea Sô.

Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô được thành lập tháng 7 năm 1999 với tổng diện tích tự nhiên là 27.800 ha, chia làm ba khu: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt rộng 15.959ha; phân khu phục hồi sinh thái 9.816 ha và phân khu dịch vụ hành chính 2.025 ha.

< Dòng nước từ thác tạo ra con suối.

Theo số liệu thống kê thì khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô có tất cả 709 loài với 139 họ, thuộc các ngành như: thông, dương xỉ và ngọc lan; hệ động vật có 44 loài thú, 158 loài chim, 23 loài bò sát, 7 loài ếch nhái, trong đó có những loài chim, thú đặc biệt quý hiếm như: beo lúa, voi, cheo, bò tót, gấu chó, gấu ngựa, sóc đỏ, vượn đen, khỉ mặt đỏ, gà lôi trắng…

< Cảnh vật cực kỳ hoang sơ.

Trong số loài động vật sống ở khu bảo tồn có 22 loài quý hiếm được ghi tên trong Sách Đỏ của Việt Nam và thế giới. Ngoài động thực vật quí hiếm, khu bảo tồn còn là khu rừng sinh thái đẹp với dòng thác âm thầm chảy từ bao đời nay.

Thác được hình thành trên một dòng suối nhỏ hiền hòa trong mùa khô nhưng hung dữ vào mùa mưa, nằm hoang sơ giữa những cây rừng thuộc họ có rễ phụ đan kín trông rất lạ mắt.

Thác với cột nước đổ trên cao khoảng 20 m đổ xuống một mặt hồ rộng và sâu, tung bọt trắng xóa rồi trở về lại với dòng chảy hiền hòa, uốn lượn giữa đại ngàn Ea Sô xanh thẳm.

So với các thác nước khác của Đắk Lắk như thác Gia Long, thác Krông Kmar..., thác Bay ít được mọi người biết đến do không thuận tiện về đường đi lại và nằm trong khu Bảo tồn nên việc khai thác du lịch còn đang rất hạn chế.

Vậy nhưng đây lại chính là điểm mạnh của thác Bay vì đến với thác này, du khách sẽ được thưởng ngoạn một thắng cảnh hoàn toàn còn hoang dã và được trở về với thiên nhiên thật trọn vẹn.

Du lịch sinh thái cồn Đen

Lữ khách phương xa khi đến Nam Định vẫn thường nghe câu ngỏ rằng:
“Cồn Lu Cồn Ngạn Cồn Mờ,
Trong ba Cồn ấy, anh mơ Cồn nào ?”.
... thì khi về đến Thái Bình bạn sẽ được nghe câu:
“Cồn Đen Cồn Thủ Cồn Vành,
Kìa thêm Cồn nữa, Cồn Mờ thứ tư”.

< Bình minh trên Cồn Đen.

Tại quê hương năm tấn, du khách sẽ được chiêm ngưỡng không chỉ ba mà đến bốn cồn cát đẹp tựa trong tranh gồm: Cồn Vành - Cồn Thủ ở Tiền Hải, Cồn Đen ở Thái Thụy và một cồn cát đang dần hình thành phía nam Cồn Đen với một tên gọi mới là Cồn Mờ.

Cồn Vành - Cồn Thủ thì Dulịch, GO! đã có dịp giới thiệu với bạn rồi nên bài viết này sẽ đề cập đến cồn Đen. Cồn Đen là một cồn cát hoang sơ nằm cách đất liền 3 km thuộc xã Thái Đô, Thái Thuỵ, Thái Bình. Cách Thị trấn Diêm Điền 15 km về phía Nam và cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 40 km về phía Tây.

Đây là dải cồn cát có diện tích 1.150ha, dài khoảng 3km, chiều rộng chỗ lớn nhất khoảng 700m, chỗ hẹp nhất 450m.

Cồn Đen được hình thành do kiến tạo bồi đắp phù sa và bùn cát của sông Trà Lý dưới tác động của dòng chảy giữa sông và chế độ thủy động lực vùng ven biển tạo thành nên có địa hình tương đối bằng phẳng. Phía Nam của cồn cát hiện nay vẫn đang tiếp tục được bồi tụ và phát triển dài dưới dạng các mũi cát chạy song song với đường bờ.

Cồn Đen nằm trong khu vực dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2004. Đến nay khung cảnh tự nhiên trên cồn vẫn còn hoang sơ, được nhiều người đánh giá là cồn biển đẹp nhất miền Bắc với vùng cảnh quan trải dài bao gồm các bãi cát mịn và khu vực nuôi ngao.

Dọc theo cồn cát là dải thông xanh, khu vực phía trong là thảm thực vật còn nguyên sơ, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển độc đáo với các loài thực vật như dừa nước, hoa muống biển, cây vẹt, cây bần, cây sú.
Khu vực này hiện có khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 60 loài chim di cư, hơn 50 loài chim nước; nhiều loài chim quý hiếm được ghi trong Sách đỏ thế giới như: cò thìa, mòng bể, rẽ mỏ thìa, cà trắng bắc…

Rừng ngập mặn ở đây không chỉ là 'bức tường xanh' bảo vệ đê biển, làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão mà còn là nơi cung cấp nguồn lợi thủy hải sản phong phú cùng với 500 loài động vật thủy sinh và cỏ biển có giá trị kinh tế cao. Tất cả đã tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn lạ kỳ đối với cồn cát này.

Khi đến cồn Đen, du khách vừa thỏa sức tìm hiểu thế giới thiên nhiên ven biển kỳ thú, ngắm những đợt sóng trắng xóa ào ạt xô bờ, tận hưởng những làm gió mát lành từ biển thổi vào. Từ khu du lịch sinh thái cồn Đen, có thể đi dọc các xã ven biển, khám phá quần thể rừng ngập mặn với diện tích gần 4.000 ha, thăm quan Khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và một số di tích đình, đền, chùa ở Thái Thụy và thưởng thức món đặc trưng của người dân quê biển như: nộm sứa, gỏi nhệch, nước mắm Diêm Điền…

Trên khu vực cồn Đen, đường đi lại chủ yếu bằng đường đất, ngoài một trung tâm điều hành sản xuất giống ngao và đồn Biên phòng thì hiện này chưa có dân cư sinh sống nên nguồn nước ngọt phải tự cấp bằng nước mưa, hệ thống điện sử dụng máy phát cục bộ, hệ thống thoát nước chủ  yếu là các mương xây lấy nước phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Năm 2010, UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch chung Khu du lịch sinh thái cồn Đen với diện tích 1.150ha gồm toàn bộ khu vực cồn Đen và một phần diện tích nuôi trồng thủy sản thuộc xã Thái Đô. Theo đó, cồn Đen sẽ được quy hoạch thành khu du lịch sinh thái có bãi tắm biển, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí (sân thể thao, khu trượt nước), khu du lịch văn hóa tổng hợp, trung tâm mua sắm, hệ thống cây xanh...

Đường đến đó không quá khó đi vì Cồn Đen chỉ cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng chừng 45 km. Nếu từ TP, khách nên đi theo hướng cầu Thái Bình, sau đó đến ngã tư Gia Lễ thuộc huyện Đông Hưng rồi rẽ phải - Chạy xe thẳng tiến đến chân cầu Vô Hối thuộc Thái Thụy thì rẽ phải tiếp chạy dọc bên bờ nam sông Diêm, đến ngã ba Vị Dương rồi rẽ phải lần nữa, đi đến ngã ba Chợ Phố Thái Phúc chúng ta rẽ về bên trái rồi chạy thẳng băng qua ngã tư, qua Thái Hưng (khu nhà thờ). Đến ngã tư trên rẽ phải đi qua Thái An và chạy thẳng tiếp băng qua ngã tư Chợ Lục - Thái Xuyên là đến vùng viên giới biển (frontier) thuộc xã Thái Đô.

Sau khi rẽ trái theo đường trục qua Ủy ban nhân dân, Trường THCS, Trường tiểu học (Thái Đô), khách rẽ phải tiếp lên con đê của dự án (đê mới đổ bê tông) chừng độ hơn 3km là sẽ nhìn thấy khu Du lịch sinh thái cồn Đen hiện ra.

Sau khi gửi xe, chúng ta đi bộ qua cây cầu gỗ dài chừng 500m, đi qua cầu phao bằng tre bắc qua con sông nhỏ là khách đã có mặt ở trung tâm của khu du lịch sinh thái Cồn Đen.

- ảnh internet
Lữ khách phương xa khi đến Nam Định vẫn thường nghe câu ngỏ rằng:
“Cồn Lu Cồn Ngạn Cồn Mờ,
Trong ba Cồn ấy, anh mơ Cồn nào ?”.
... thì khi về đến Thái Bình bạn sẽ được nghe câu:
“Cồn Đen Cồn Thủ Cồn Vành,
Kìa thêm Cồn nữa, Cồn Mờ thứ tư”.

< Bình minh trên Cồn Đen.

Tại quê hương năm tấn, du khách sẽ được chiêm ngưỡng không chỉ ba mà đến bốn cồn cát đẹp tựa trong tranh gồm: Cồn Vành - Cồn Thủ ở Tiền Hải, Cồn Đen ở Thái Thụy và một cồn cát đang dần hình thành phía nam Cồn Đen với một tên gọi mới là Cồn Mờ.

Cồn Vành - Cồn Thủ thì Dulịch, GO! đã có dịp giới thiệu với bạn rồi nên bài viết này sẽ đề cập đến cồn Đen. Cồn Đen là một cồn cát hoang sơ nằm cách đất liền 3 km thuộc xã Thái Đô, Thái Thuỵ, Thái Bình. Cách Thị trấn Diêm Điền 15 km về phía Nam và cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng 40 km về phía Tây.

Đây là dải cồn cát có diện tích 1.150ha, dài khoảng 3km, chiều rộng chỗ lớn nhất khoảng 700m, chỗ hẹp nhất 450m.

Cồn Đen được hình thành do kiến tạo bồi đắp phù sa và bùn cát của sông Trà Lý dưới tác động của dòng chảy giữa sông và chế độ thủy động lực vùng ven biển tạo thành nên có địa hình tương đối bằng phẳng. Phía Nam của cồn cát hiện nay vẫn đang tiếp tục được bồi tụ và phát triển dài dưới dạng các mũi cát chạy song song với đường bờ.

Cồn Đen nằm trong khu vực dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2004. Đến nay khung cảnh tự nhiên trên cồn vẫn còn hoang sơ, được nhiều người đánh giá là cồn biển đẹp nhất miền Bắc với vùng cảnh quan trải dài bao gồm các bãi cát mịn và khu vực nuôi ngao.

Dọc theo cồn cát là dải thông xanh, khu vực phía trong là thảm thực vật còn nguyên sơ, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển độc đáo với các loài thực vật như dừa nước, hoa muống biển, cây vẹt, cây bần, cây sú.
Khu vực này hiện có khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 60 loài chim di cư, hơn 50 loài chim nước; nhiều loài chim quý hiếm được ghi trong Sách đỏ thế giới như: cò thìa, mòng bể, rẽ mỏ thìa, cà trắng bắc…

Rừng ngập mặn ở đây không chỉ là 'bức tường xanh' bảo vệ đê biển, làng xóm khỏi bị tàn phá bởi gió bão mà còn là nơi cung cấp nguồn lợi thủy hải sản phong phú cùng với 500 loài động vật thủy sinh và cỏ biển có giá trị kinh tế cao. Tất cả đã tạo nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn lạ kỳ đối với cồn cát này.

Khi đến cồn Đen, du khách vừa thỏa sức tìm hiểu thế giới thiên nhiên ven biển kỳ thú, ngắm những đợt sóng trắng xóa ào ạt xô bờ, tận hưởng những làm gió mát lành từ biển thổi vào. Từ khu du lịch sinh thái cồn Đen, có thể đi dọc các xã ven biển, khám phá quần thể rừng ngập mặn với diện tích gần 4.000 ha, thăm quan Khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh và một số di tích đình, đền, chùa ở Thái Thụy và thưởng thức món đặc trưng của người dân quê biển như: nộm sứa, gỏi nhệch, nước mắm Diêm Điền…

Trên khu vực cồn Đen, đường đi lại chủ yếu bằng đường đất, ngoài một trung tâm điều hành sản xuất giống ngao và đồn Biên phòng thì hiện này chưa có dân cư sinh sống nên nguồn nước ngọt phải tự cấp bằng nước mưa, hệ thống điện sử dụng máy phát cục bộ, hệ thống thoát nước chủ  yếu là các mương xây lấy nước phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Năm 2010, UBND tỉnh đã phê duyệt Quy hoạch chung Khu du lịch sinh thái cồn Đen với diện tích 1.150ha gồm toàn bộ khu vực cồn Đen và một phần diện tích nuôi trồng thủy sản thuộc xã Thái Đô. Theo đó, cồn Đen sẽ được quy hoạch thành khu du lịch sinh thái có bãi tắm biển, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí (sân thể thao, khu trượt nước), khu du lịch văn hóa tổng hợp, trung tâm mua sắm, hệ thống cây xanh...

Đường đến đó không quá khó đi vì Cồn Đen chỉ cách trung tâm thành phố Thái Bình khoảng chừng 45 km. Nếu từ TP, khách nên đi theo hướng cầu Thái Bình, sau đó đến ngã tư Gia Lễ thuộc huyện Đông Hưng rồi rẽ phải - Chạy xe thẳng tiến đến chân cầu Vô Hối thuộc Thái Thụy thì rẽ phải tiếp chạy dọc bên bờ nam sông Diêm, đến ngã ba Vị Dương rồi rẽ phải lần nữa, đi đến ngã ba Chợ Phố Thái Phúc chúng ta rẽ về bên trái rồi chạy thẳng băng qua ngã tư, qua Thái Hưng (khu nhà thờ). Đến ngã tư trên rẽ phải đi qua Thái An và chạy thẳng tiếp băng qua ngã tư Chợ Lục - Thái Xuyên là đến vùng viên giới biển (frontier) thuộc xã Thái Đô.

Sau khi rẽ trái theo đường trục qua Ủy ban nhân dân, Trường THCS, Trường tiểu học (Thái Đô), khách rẽ phải tiếp lên con đê của dự án (đê mới đổ bê tông) chừng độ hơn 3km là sẽ nhìn thấy khu Du lịch sinh thái cồn Đen hiện ra.

Sau khi gửi xe, chúng ta đi bộ qua cây cầu gỗ dài chừng 500m, đi qua cầu phao bằng tre bắc qua con sông nhỏ là khách đã có mặt ở trung tâm của khu du lịch sinh thái Cồn Đen.

- ảnh internet

Tầng Biến - Rừng “Cúc Phương” ở Phúc Sơn

(TQĐT) - Người dân xã Phúc Sơn (Chiêm Hoá) vẫn thường gọi Khu du lịch sinh thái Tầng Biến, thuộc hai thôn Tầng, thôn Biến như vậy. Bởi đây là một điểm du lịch độc đáo, hấp dẫn với những cánh rừng nguyên sinh trải dài, bầu không khí trong lành, mát mẻ bốn mùa, thích hợp với những ai muốn khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn của tự nhiên.

Khu du lịch sinh thái Tầng Biến, cách trung tâm xã 16 km. Ở đây, có không khí trong lành mát mẻ và những cánh rừng nguyên sinh kỳ vĩ trải rộng khoảng 5.000 ha. Tuổi đời của những cây rừng ở đây đến người dân cao tuổi nhất cũng không thể biết chắc được.

Con đường mòn đi lên cheo leo theo vách núi đá, càng đi lên cao, du khách sẽ càng nhìn thấy tầng tầng, lớp lớp rừng cổ thụ đinh, sến, trai, chò chỉ…, trong đó có những cây đường kính đến hơn 3 m, phải ba, bốn người ôm mới xuể. Càng lên cao, không khí càng mát mẻ, tạo cho du khách cảm giác thư thái.

Đi hết một quãng đường núi, du khách sẽ thấy nhẹ nhõm khi đến một khu đất bằng phẳng, được gọi là khu Chao (theo tiếng dân tộc Tày nghĩa là lòng chảo), một thung lũng nhỏ thuộc thôn Biến.

Đồng bào nơi đây đều là dân tộc Dao, với trên 100 hộ. Sẽ thật thú vị cho những ai muốn tìm hiểu bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số. Suốt quãng đường đến thôn Biến dài khoảng 7 km, quý khách có thể vừa đi, vừa nghỉ để cảm nhận vẻ đẹp tự nhiên của những cánh rừng nguyên sinh. Dọc đường, có thể bắt gặp những con don, cầy, sóc… nhảy nhót trên cây hoặc dạo chơi trong rừng. Nếu muốn, du khách cũng có thể nghỉ tại nhà của đồng bào trong thôn.

Đến thôn Biến, sau khi nghỉ chân, du khách sẽ được người dân nơi đây dẫn đi leo thác Tát Điền (theo tiếng dân tộc Tày, tát là thác, điền là liền, có nghĩa là thác liền. Đỉnh thác Tát Điền là nơi giáp ranh với xã Thanh Tương (Nà Hang), nước chảy quanh năm như một dải lụa trắng từ trên đỉnh núi xuống đến chân núi. Thác có 2 tầng. Để leo lên đến đỉnh phải mất vài giờ đồng hồ. Hết tầng một, có một hồ nước lớn, có thể tắm mát thoả thích và nghỉ ngơi. Chỉ có ai kiên trì và ham thích khám phá mới có thể đủ kiên nhẫn để leo lên tầng 2, đỉnh thác. Khi đó, du khách sẽ được đứng ở nơi cao nhất, thu vào tầm mắt toàn bộ cảnh vật thiên nhiên nơi đây và cái cảm giác được chinh phục thật thú vị…

Đến với Khu du lịch sinh thái Tầng Biến, du khách còn được thưởng thức một loại rượu đặc biệt, gọi là rượu báng, được làm từ bột của cây báng chỉ có ở trên rừng già. Rượu báng được làm với một loại men lá đặc biệt, mà chỉ có người dân nơi đây mới biết, tạo nên vị cay, vị thơm rất đặc trưng.

Trong đề án phát triển du lịch của huyện Chiêm Hóa đến năm 2020 xác định: Rừng nguyên sinh Tầng Biến, xã Phúc Sơn, thiên nhiên trong trẻo, hùng vĩ. Đồng bào nơi đây chất phát, nồng hậu… là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái.

Đến với Phúc Sơn, cùng với thăm rừng nguyên sinh Tầng Biến, du khách còn được đi tham quan quần thể hang động kỳ thú gồm hang Bó Ngoặng, Thẳm Hốc, Thẳm Vài ở thôn Bản Câm (đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh). Đặc biệt, sắp tới, khi tuyến đường vành đai phía Bắc – quốc lộ 279, nối liền từ tỉnh Hà Giang, qua các xã Hồng Quang, Minh Quang, Phúc Sơn (Chiêm Hoá) lên huyện Nà Hang được hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch chung của huyện. Và chắc chắn, một ngày không xa sẽ có nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến Khu du lịch sinh thái Tầng Biến của Phúc Sơn.
Xem thêm >

Theo Phạm Huyền (Tuyenquang online)
(TQĐT) - Người dân xã Phúc Sơn (Chiêm Hoá) vẫn thường gọi Khu du lịch sinh thái Tầng Biến, thuộc hai thôn Tầng, thôn Biến như vậy. Bởi đây là một điểm du lịch độc đáo, hấp dẫn với những cánh rừng nguyên sinh trải dài, bầu không khí trong lành, mát mẻ bốn mùa, thích hợp với những ai muốn khám phá vẻ đẹp tiềm ẩn của tự nhiên.

Khu du lịch sinh thái Tầng Biến, cách trung tâm xã 16 km. Ở đây, có không khí trong lành mát mẻ và những cánh rừng nguyên sinh kỳ vĩ trải rộng khoảng 5.000 ha. Tuổi đời của những cây rừng ở đây đến người dân cao tuổi nhất cũng không thể biết chắc được.

Con đường mòn đi lên cheo leo theo vách núi đá, càng đi lên cao, du khách sẽ càng nhìn thấy tầng tầng, lớp lớp rừng cổ thụ đinh, sến, trai, chò chỉ…, trong đó có những cây đường kính đến hơn 3 m, phải ba, bốn người ôm mới xuể. Càng lên cao, không khí càng mát mẻ, tạo cho du khách cảm giác thư thái.

Đi hết một quãng đường núi, du khách sẽ thấy nhẹ nhõm khi đến một khu đất bằng phẳng, được gọi là khu Chao (theo tiếng dân tộc Tày nghĩa là lòng chảo), một thung lũng nhỏ thuộc thôn Biến.

Đồng bào nơi đây đều là dân tộc Dao, với trên 100 hộ. Sẽ thật thú vị cho những ai muốn tìm hiểu bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc thiểu số. Suốt quãng đường đến thôn Biến dài khoảng 7 km, quý khách có thể vừa đi, vừa nghỉ để cảm nhận vẻ đẹp tự nhiên của những cánh rừng nguyên sinh. Dọc đường, có thể bắt gặp những con don, cầy, sóc… nhảy nhót trên cây hoặc dạo chơi trong rừng. Nếu muốn, du khách cũng có thể nghỉ tại nhà của đồng bào trong thôn.

Đến thôn Biến, sau khi nghỉ chân, du khách sẽ được người dân nơi đây dẫn đi leo thác Tát Điền (theo tiếng dân tộc Tày, tát là thác, điền là liền, có nghĩa là thác liền. Đỉnh thác Tát Điền là nơi giáp ranh với xã Thanh Tương (Nà Hang), nước chảy quanh năm như một dải lụa trắng từ trên đỉnh núi xuống đến chân núi. Thác có 2 tầng. Để leo lên đến đỉnh phải mất vài giờ đồng hồ. Hết tầng một, có một hồ nước lớn, có thể tắm mát thoả thích và nghỉ ngơi. Chỉ có ai kiên trì và ham thích khám phá mới có thể đủ kiên nhẫn để leo lên tầng 2, đỉnh thác. Khi đó, du khách sẽ được đứng ở nơi cao nhất, thu vào tầm mắt toàn bộ cảnh vật thiên nhiên nơi đây và cái cảm giác được chinh phục thật thú vị…

Đến với Khu du lịch sinh thái Tầng Biến, du khách còn được thưởng thức một loại rượu đặc biệt, gọi là rượu báng, được làm từ bột của cây báng chỉ có ở trên rừng già. Rượu báng được làm với một loại men lá đặc biệt, mà chỉ có người dân nơi đây mới biết, tạo nên vị cay, vị thơm rất đặc trưng.

Trong đề án phát triển du lịch của huyện Chiêm Hóa đến năm 2020 xác định: Rừng nguyên sinh Tầng Biến, xã Phúc Sơn, thiên nhiên trong trẻo, hùng vĩ. Đồng bào nơi đây chất phát, nồng hậu… là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái.

Đến với Phúc Sơn, cùng với thăm rừng nguyên sinh Tầng Biến, du khách còn được đi tham quan quần thể hang động kỳ thú gồm hang Bó Ngoặng, Thẳm Hốc, Thẳm Vài ở thôn Bản Câm (đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh). Đặc biệt, sắp tới, khi tuyến đường vành đai phía Bắc – quốc lộ 279, nối liền từ tỉnh Hà Giang, qua các xã Hồng Quang, Minh Quang, Phúc Sơn (Chiêm Hoá) lên huyện Nà Hang được hoàn thành sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển du lịch chung của huyện. Và chắc chắn, một ngày không xa sẽ có nhiều khách du lịch trong và ngoài nước biết đến Khu du lịch sinh thái Tầng Biến của Phúc Sơn.
Xem thêm >

Theo Phạm Huyền (Tuyenquang online)

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là một khu rừng đặc dụng ở tỉnh Đắk Lắk của Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 182/1991/QĐ-KL ngày 13 tháng 5 năm 1991 của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn).

< Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar.

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar hiện nay nằm trên địa bàn 6 xã thuộc 2 huyện là: Xã Nam Kar, Ea R'Bin, Đắk Nuê, Buôn Triết, Buôn Tría huyện Lắk và xã Bình Hòa huyện Krông Ana tỉnh Đắk Lắk.

Tổng diện tích Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là 21.912,3ha - độ che phủ là 95,5% - trong đó gồm:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 15.149,5 ha chiếm 69,14 % diện tích.
- Phân khu phục hồi sinh thái: 6.747,8,5 ha chiếm 30,79% diện tích.
- Phân khu hành chính, dịch vụ: 15 ha chiếm 0,07% diện tích.

Nam Kar thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của khu vực Tây Nguyên, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Nơi này có hệ thống sông, suối dày đặc với sông lớn là Krông Nô bao bọc ở phía Tây và Nam khu bảo tồn. Nam Kar có một số hồ tự nhiên lớn như Hồ Ea Boune rộng 79,1 ha, Hồ Ea Tyr rộng 131,6 ha, Hồ Ea R'Bin rộng 235,1 ha.

Địa hình rất phong phú và đa dạng, nổi bật là vùng núi cao có hướng thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, nơi cao nhất của khu vực là đỉnh Chư Nam Kar cao 1.294 m. Thấp nhất là hồ Ea Boune ở phía Tây Bắc có độ cao so với mực nước biển là 418 m. Địa hình nơi đây hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi gò, trảng bằng, đồng cỏ đầm hồ, sông suối tạo nên một vùng đặc sắc gần như hội đủ các dạng địa hình nên cũng có đủ các kiểu thảm thực vật là môi trường sống lý tưởng của nhiều loài động vật rừng.

Đất đai, thổ nhưỡng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar rất phong phú, đa dạng gồm 12 loại đất thuộc 6 nhóm đặc trưng (Đất phù sa, đất Gley, đất mới biến đổi, đất đỏ, đất xám, đất đen) trên tổng số 27 loại, 9 nhóm đất theo bảng phân loại đất khu vực Tây Nguyên.

Nơi đây có các kiểu rừng chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới, rừng thứ sinh tre, nứa, gỗ- lồ ô tre nứa, rừng trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác...

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có 586 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 149 họ của 67 bộ trong 5 ngành thực vật, có thể chia ra như sau:

Lớp chim: Có 140 loài thuộc 43 họ của 17 bộ.
Lớp Thú: Có 56 loài thuộc 24 họ của 9 bộ.
Lớp Lưỡng cư-bò sát: Có 50 loài thuộc 16 họ của 4 bộ.
Có một số loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới là: bò tót, beo, vọoc vá, cầy giông, gà lôi, gà tiền, cu li nhỏ...

Cách đây 20 - 25 năm, trong khu rừng rậm Nam Kar có nhiều cá thể hổ sinh sống cùng với nhiều loài động vật hoang dã nhưng nay: loài hổ ở đây đã hoàn toàn biến mất do bị săn lùng trái phép, phần khác cũng do môi trường sống của loài hổ bị thu hẹp dần.

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là nơi bảo vệ các hệ sinh thái rừng núi cao Tây Nguyên và trảng cỏ cây bụi, bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài đặc hữu và quý hiếm. Đây cũng là nơi nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái... để góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương.

Khu bảo tồn còn có chức năng bảo vệ rừng đầu nguồn thủy điện Buôn Tua Sar - Nam Kar, sông Krông Nô, sông Serepôk, sông Mê Kông, điều hoà và cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp.

tổng hợp
Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là một khu rừng đặc dụng ở tỉnh Đắk Lắk của Việt Nam, được thành lập theo quyết định số 182/1991/QĐ-KL ngày 13 tháng 5 năm 1991 của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn).

< Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar.

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar hiện nay nằm trên địa bàn 6 xã thuộc 2 huyện là: Xã Nam Kar, Ea R'Bin, Đắk Nuê, Buôn Triết, Buôn Tría huyện Lắk và xã Bình Hòa huyện Krông Ana tỉnh Đắk Lắk.

Tổng diện tích Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là 21.912,3ha - độ che phủ là 95,5% - trong đó gồm:
- Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 15.149,5 ha chiếm 69,14 % diện tích.
- Phân khu phục hồi sinh thái: 6.747,8,5 ha chiếm 30,79% diện tích.
- Phân khu hành chính, dịch vụ: 15 ha chiếm 0,07% diện tích.

Nam Kar thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa của khu vực Tây Nguyên, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Nơi này có hệ thống sông, suối dày đặc với sông lớn là Krông Nô bao bọc ở phía Tây và Nam khu bảo tồn. Nam Kar có một số hồ tự nhiên lớn như Hồ Ea Boune rộng 79,1 ha, Hồ Ea Tyr rộng 131,6 ha, Hồ Ea R'Bin rộng 235,1 ha.

Địa hình rất phong phú và đa dạng, nổi bật là vùng núi cao có hướng thấp dần từ Đông Bắc sang Tây Nam, nơi cao nhất của khu vực là đỉnh Chư Nam Kar cao 1.294 m. Thấp nhất là hồ Ea Boune ở phía Tây Bắc có độ cao so với mực nước biển là 418 m. Địa hình nơi đây hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi gò, trảng bằng, đồng cỏ đầm hồ, sông suối tạo nên một vùng đặc sắc gần như hội đủ các dạng địa hình nên cũng có đủ các kiểu thảm thực vật là môi trường sống lý tưởng của nhiều loài động vật rừng.

Đất đai, thổ nhưỡng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar rất phong phú, đa dạng gồm 12 loại đất thuộc 6 nhóm đặc trưng (Đất phù sa, đất Gley, đất mới biến đổi, đất đỏ, đất xám, đất đen) trên tổng số 27 loại, 9 nhóm đất theo bảng phân loại đất khu vực Tây Nguyên.

Nơi đây có các kiểu rừng chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới, rừng thứ sinh tre, nứa, gỗ- lồ ô tre nứa, rừng trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác...

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar có 586 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 149 họ của 67 bộ trong 5 ngành thực vật, có thể chia ra như sau:

Lớp chim: Có 140 loài thuộc 43 họ của 17 bộ.
Lớp Thú: Có 56 loài thuộc 24 họ của 9 bộ.
Lớp Lưỡng cư-bò sát: Có 50 loài thuộc 16 họ của 4 bộ.
Có một số loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới là: bò tót, beo, vọoc vá, cầy giông, gà lôi, gà tiền, cu li nhỏ...

Cách đây 20 - 25 năm, trong khu rừng rậm Nam Kar có nhiều cá thể hổ sinh sống cùng với nhiều loài động vật hoang dã nhưng nay: loài hổ ở đây đã hoàn toàn biến mất do bị săn lùng trái phép, phần khác cũng do môi trường sống của loài hổ bị thu hẹp dần.

Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar là nơi bảo vệ các hệ sinh thái rừng núi cao Tây Nguyên và trảng cỏ cây bụi, bảo tồn các loài động, thực vật hoang dã, đặc biệt là các loài đặc hữu và quý hiếm. Đây cũng là nơi nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái... để góp phần phát triển kinh tế, xã hội địa phương.

Khu bảo tồn còn có chức năng bảo vệ rừng đầu nguồn thủy điện Buôn Tua Sar - Nam Kar, sông Krông Nô, sông Serepôk, sông Mê Kông, điều hoà và cung cấp nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp.

tổng hợp

Xuyên Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà

(TSTtourist) - Nhận được lời mời của Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường Vườn Quốc Gia Bidoup - Núi Bà, tôi lập tức lên đường xuyên qua khu rừng nguyên sinh được xem là cổ nhất Lâm Đồng: một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam.

< Một góc nhỏ của vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà.

Cung đường sinh thái

Theo tỉnh lộ ĐT 723 ra khỏi thành phố Đà Lạt độ 50 km, chúng tôi đến cổng vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà. Cung đường chạy qua những vạt rừng nguyên sinh và bản làng dân tộc ít người với nhiều nét văn hóa khác nhau nhưng rất thích hợp với loại hình du lịch trekking…

Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà có hai đỉnh núi cao nhất cao nguyên Langbiang là Bidoup (cao 2.287 m) và Núi Bà (cao 2.167 m). Để chinh phục 2 đỉnh này là một hành trình sinh thái đầy thú vị và mạo hiểm.

Con đường mòn đất đỏ để vào trạm kiểm lâm Bidoup chỉ dài khoảng 10km nhưng khá trắc trở. Đường dốc ngược và chật hẹp, lắm lúc tưởng như xe máy không thể “bò” lên dốc cao gần 45 độ. Dốc xuống thì lổn ngổn đá. Cầm tay lái không khéo, xe có thể trôi ngang, lao ra mép vực.

< Vượt suối Dasar bằng bè.

Sau gần 20 phút vượt đường mòn, con suối Đasar trong xanh hiện ra trước mắt như một phần thưởng khích lệ nho nhỏ. Đây là dòng suối bắt nguồn từ sông Đa Nhim, chảy theo hướng Nam sang thành phố Đà Lạt và huyện Đơn Dương. Suối mùa khô nên ít nước, trong leo lẻo.

Để qua suối, người ta làm một chiếc bè. Bè được neo vào dây cáp đã cố định vào những chiếc cọc vững chải ở hai bên bờ. Người lái bè men theo sợi dây cáp đó tự kéo qua bờ bên kia.

Đến trạm kiểm lâm Bidoup, ai cũng đói và mệt. Cả đoàn ăn vội mì tôm, kiểm tra đồ đạc, chuẩn bị nước uống, lương khô…rồi tiếp tục lên đường. Từ đây lên tới đỉnh Bidoup chỉ 12km nhưng đường rừng phải mất 1 ngày 1 đêm. Vì thế đoàn chúng tôi quyết định cắm trại ở vị trí cao 1.930 m.

Thế nhưng trước khi lên đến nơi cắm trại, chúng tôi lại đối diện với những cơn bão muộn ngoài biển Đông liên tục đổ vào đất liền. Cơn mưa đêm trước để lại một lớp đất nhão nhoét dưới mặt đường.


< Nhóm lửa tại nơi đoàn hạ trại.

Đôi giày đế gai dày cộp và một chiếc gậy đi rừng vẫn không giúp chúng tôi di chuyển an toàn hơn. Đường trơn nhẫy, có đoạn lại bê bết bùn. Đôi chân rã rời, tưởng chừng như không còn nhấc lên nổi, những trận gió đưa cái rét thấm vào tận xương…nhưng, tất cả những khắc nghiệt của thiên nhiên vẫn không ngăn được sự mạo hiểm của đoàn khám phá…

Dừng chân giữa rừng

Chúng tôi hạ trại giữa một khu rừng bán ôn đới, dưới tình hình áp thấp nhiệt đới cùng cơn mưa lê thê. Vì gỗ ướt nên chuẩn bị bữa cơm chiều với cá khô, rau rừng phải mất hơn 1 giờ. Để làm đậm đà thêm hương vị, chúng tôi chọn nhiều loại rau ăn được như:  lá chân chim, lá mì chính để bổ sung vào bữa ăn.

Đêm Bidoup dài hơn ngày. Mặt trời mới xuống ngọn cây thì màn đêm đã phủ lấy đại ngàn.  Cả khu rừng bị bao phủ trong làn sương khói. Những hạt mưa dai dẳng len qua kẽ lá, rớt lộp bộp trên nóc lều. Tiếng mưa, tiếng suối, tiếng heo rừng ủi quanh khu lán trại, tiếng sột soạt của những con nhím, con chồn kiếm ăn ban đêm... làm người yếu bóng vía khó mà chợp mắt! Nhưng dù sao chúng tôi vẫn phải ngủ để ngày mai còn sức trèo lên đỉnh Bidoup.

Bình minh đón chào chúng tôi là tiếng vượn hót, chim kêu. Dễ nhận ra nhất là sẻ thông họng vàng với giọng hót líu lo, bộ lông màu nâu thẫm, ngực và sườn vàng nhưng có các vệt nâu ở giữa. Sẻ thông họng vàng là một loài chim đặc hữu của Bidoup, chỉ có ở Việt Nam. Đây là một loài quý hiếm, không chỉ có giá trị khoa học mà còn có giá trị thẩm mỹ. Mới sáng, hàng trăm loài chim đã làm bừng dậy nguồn năng lượng mới, tràn trề sức sống. Một ngày vất vả hôm qua đã được đền bù xứng đáng.

Tiếp tục chinh phục độ dốc cao hơn, đường đi bắt đầu hẹp dần và chúng tôi khám phá ra nhiều điều. Một ngọn cây xanh ngát, mướt mượt nhưng đừng vội ngắt bởi nó có thể giết chết một người khoẻ mạnh trong chốc lát, ấy là lá ngón. Còn kia là loại cây thân sù sì, trông như đang héo, nhưng củ lại là nguyên liệu mà người dân tộc Cil ở đây dùng để nhuộm vải, rất khó phai màu...Thiên nhiên quá kỳ diệu, muôn đời con người vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên.  Con người đã gán cho thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn những quyền lực, sức mạnh và thần thánh hoá nó. Tôi bỗng nhớ đến phong tục của người Lạch, người Chil, người Mạ... bản địa, khi phải chặt một thân cây, người ta cẩn trọng làm lễ xin phép rừng và tạ lỗi với cây.

Di sản của rừng

Chật vật trọn một ngày, đỉnh Bidoup hiện ra dưới những tầng mây trắng yên bình. Chúng tôi lưu lại hơn 30 phút rồi lục tục xuống núi. Vượt qua khoảng 9km đường rừng nguyên sinh toàn gai góc, muỗi vắt, rắn rết, bò cạp… , chúng tôi đã đến được nơi có cây Pơmu cổ thụ với chu vi bằng chín người ôm. Nếu như rừng Cúc Phương (Ninh Bình) tự hào với cây chò ngàn năm tuổi thì Bidoup cũng chẳng thua kém gì với cây Pơmu 1.305 năm tuổi đã được các nhà khoa học đại học Columbia Hoa Kỳ công nhận là "di sản". Ngắm thân cây có chu vi 13,5m và chiều cao 40m, chúng tôi vẫn không tránh được ngỡ ngàng trước “di sản” đang hiện diện ngay giữa núi rừng quê hương.

Chinh phục Bidoup- Núi Bà là thưởng thức những thước phim khám phá đầy sống động. Tính ra mỗi ngày chúng tôi đã đi bộ khoảng 20 km đường rừng, vượt qua nhiều hệ sinh cảnh khác nhau: núi, thác, sông, suối…

Ba ngày trong rừng đã kết thúc. Hành trình này có đủ mọi cung bậc của một chuyến chinh phục thật sự: gian khổ, nguy hiểm, và khắc nghiệt của thời tiết... Có lẽ đó mới chính là yếu tố làm nên sự hấp dẫn cho một chuyến chinh phục thiên nhiên kỳ thú.
Xem thêm >

Theo Trần Đức Thịnh (TST tourist.com) + ảnh web Lamdong.gov
(TSTtourist) - Nhận được lời mời của Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường Vườn Quốc Gia Bidoup - Núi Bà, tôi lập tức lên đường xuyên qua khu rừng nguyên sinh được xem là cổ nhất Lâm Đồng: một trong bốn trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam.

< Một góc nhỏ của vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà.

Cung đường sinh thái

Theo tỉnh lộ ĐT 723 ra khỏi thành phố Đà Lạt độ 50 km, chúng tôi đến cổng vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà. Cung đường chạy qua những vạt rừng nguyên sinh và bản làng dân tộc ít người với nhiều nét văn hóa khác nhau nhưng rất thích hợp với loại hình du lịch trekking…

Vườn Quốc gia Bidoup - Núi Bà có hai đỉnh núi cao nhất cao nguyên Langbiang là Bidoup (cao 2.287 m) và Núi Bà (cao 2.167 m). Để chinh phục 2 đỉnh này là một hành trình sinh thái đầy thú vị và mạo hiểm.

Con đường mòn đất đỏ để vào trạm kiểm lâm Bidoup chỉ dài khoảng 10km nhưng khá trắc trở. Đường dốc ngược và chật hẹp, lắm lúc tưởng như xe máy không thể “bò” lên dốc cao gần 45 độ. Dốc xuống thì lổn ngổn đá. Cầm tay lái không khéo, xe có thể trôi ngang, lao ra mép vực.

< Vượt suối Dasar bằng bè.

Sau gần 20 phút vượt đường mòn, con suối Đasar trong xanh hiện ra trước mắt như một phần thưởng khích lệ nho nhỏ. Đây là dòng suối bắt nguồn từ sông Đa Nhim, chảy theo hướng Nam sang thành phố Đà Lạt và huyện Đơn Dương. Suối mùa khô nên ít nước, trong leo lẻo.

Để qua suối, người ta làm một chiếc bè. Bè được neo vào dây cáp đã cố định vào những chiếc cọc vững chải ở hai bên bờ. Người lái bè men theo sợi dây cáp đó tự kéo qua bờ bên kia.

Đến trạm kiểm lâm Bidoup, ai cũng đói và mệt. Cả đoàn ăn vội mì tôm, kiểm tra đồ đạc, chuẩn bị nước uống, lương khô…rồi tiếp tục lên đường. Từ đây lên tới đỉnh Bidoup chỉ 12km nhưng đường rừng phải mất 1 ngày 1 đêm. Vì thế đoàn chúng tôi quyết định cắm trại ở vị trí cao 1.930 m.

Thế nhưng trước khi lên đến nơi cắm trại, chúng tôi lại đối diện với những cơn bão muộn ngoài biển Đông liên tục đổ vào đất liền. Cơn mưa đêm trước để lại một lớp đất nhão nhoét dưới mặt đường.


< Nhóm lửa tại nơi đoàn hạ trại.

Đôi giày đế gai dày cộp và một chiếc gậy đi rừng vẫn không giúp chúng tôi di chuyển an toàn hơn. Đường trơn nhẫy, có đoạn lại bê bết bùn. Đôi chân rã rời, tưởng chừng như không còn nhấc lên nổi, những trận gió đưa cái rét thấm vào tận xương…nhưng, tất cả những khắc nghiệt của thiên nhiên vẫn không ngăn được sự mạo hiểm của đoàn khám phá…

Dừng chân giữa rừng

Chúng tôi hạ trại giữa một khu rừng bán ôn đới, dưới tình hình áp thấp nhiệt đới cùng cơn mưa lê thê. Vì gỗ ướt nên chuẩn bị bữa cơm chiều với cá khô, rau rừng phải mất hơn 1 giờ. Để làm đậm đà thêm hương vị, chúng tôi chọn nhiều loại rau ăn được như:  lá chân chim, lá mì chính để bổ sung vào bữa ăn.

Đêm Bidoup dài hơn ngày. Mặt trời mới xuống ngọn cây thì màn đêm đã phủ lấy đại ngàn.  Cả khu rừng bị bao phủ trong làn sương khói. Những hạt mưa dai dẳng len qua kẽ lá, rớt lộp bộp trên nóc lều. Tiếng mưa, tiếng suối, tiếng heo rừng ủi quanh khu lán trại, tiếng sột soạt của những con nhím, con chồn kiếm ăn ban đêm... làm người yếu bóng vía khó mà chợp mắt! Nhưng dù sao chúng tôi vẫn phải ngủ để ngày mai còn sức trèo lên đỉnh Bidoup.

Bình minh đón chào chúng tôi là tiếng vượn hót, chim kêu. Dễ nhận ra nhất là sẻ thông họng vàng với giọng hót líu lo, bộ lông màu nâu thẫm, ngực và sườn vàng nhưng có các vệt nâu ở giữa. Sẻ thông họng vàng là một loài chim đặc hữu của Bidoup, chỉ có ở Việt Nam. Đây là một loài quý hiếm, không chỉ có giá trị khoa học mà còn có giá trị thẩm mỹ. Mới sáng, hàng trăm loài chim đã làm bừng dậy nguồn năng lượng mới, tràn trề sức sống. Một ngày vất vả hôm qua đã được đền bù xứng đáng.

Tiếp tục chinh phục độ dốc cao hơn, đường đi bắt đầu hẹp dần và chúng tôi khám phá ra nhiều điều. Một ngọn cây xanh ngát, mướt mượt nhưng đừng vội ngắt bởi nó có thể giết chết một người khoẻ mạnh trong chốc lát, ấy là lá ngón. Còn kia là loại cây thân sù sì, trông như đang héo, nhưng củ lại là nguyên liệu mà người dân tộc Cil ở đây dùng để nhuộm vải, rất khó phai màu...Thiên nhiên quá kỳ diệu, muôn đời con người vẫn phụ thuộc vào thiên nhiên.  Con người đã gán cho thiên nhiên rộng lớn và bí ẩn những quyền lực, sức mạnh và thần thánh hoá nó. Tôi bỗng nhớ đến phong tục của người Lạch, người Chil, người Mạ... bản địa, khi phải chặt một thân cây, người ta cẩn trọng làm lễ xin phép rừng và tạ lỗi với cây.

Di sản của rừng

Chật vật trọn một ngày, đỉnh Bidoup hiện ra dưới những tầng mây trắng yên bình. Chúng tôi lưu lại hơn 30 phút rồi lục tục xuống núi. Vượt qua khoảng 9km đường rừng nguyên sinh toàn gai góc, muỗi vắt, rắn rết, bò cạp… , chúng tôi đã đến được nơi có cây Pơmu cổ thụ với chu vi bằng chín người ôm. Nếu như rừng Cúc Phương (Ninh Bình) tự hào với cây chò ngàn năm tuổi thì Bidoup cũng chẳng thua kém gì với cây Pơmu 1.305 năm tuổi đã được các nhà khoa học đại học Columbia Hoa Kỳ công nhận là "di sản". Ngắm thân cây có chu vi 13,5m và chiều cao 40m, chúng tôi vẫn không tránh được ngỡ ngàng trước “di sản” đang hiện diện ngay giữa núi rừng quê hương.

Chinh phục Bidoup- Núi Bà là thưởng thức những thước phim khám phá đầy sống động. Tính ra mỗi ngày chúng tôi đã đi bộ khoảng 20 km đường rừng, vượt qua nhiều hệ sinh cảnh khác nhau: núi, thác, sông, suối…

Ba ngày trong rừng đã kết thúc. Hành trình này có đủ mọi cung bậc của một chuyến chinh phục thật sự: gian khổ, nguy hiểm, và khắc nghiệt của thời tiết... Có lẽ đó mới chính là yếu tố làm nên sự hấp dẫn cho một chuyến chinh phục thiên nhiên kỳ thú.
Xem thêm >

Theo Trần Đức Thịnh (TST tourist.com) + ảnh web Lamdong.gov

Rừng xanh 'nước chảy ngược chiều'

(Laocai) - Nghe lời mời khá hấp dẫn về một thôn điển hình nhất của tỉnh có khu rừng tái sinh được bảo vệ từ sức dân, đã làm chúng tôi háo hức lên đường. Nằm cách thành phố Lào Cai không xa, xuôi theo Quốc lộ 70 chừng 20 km, chúng tôi có mặt tại thôn Bản Lọt, xã Bản Cầm (Bảo Thắng) trong một sớm mùa thu.

Đứng trên đồi cao, phóng tầm mắt ra xa, trải ngút ngát là một màu xanh thẳm của rừng. Toàn bộ diện tích 246 ha rừng ở đây đều xanh tốt, cây rừng chen chúc nhau, mặc dù không được quy củ như rừng trồng, song rừng ở Bản Lọt chẳng còn chỗ đất trống nào, trừ một số diện tích không đáng kể ở những mé đồi thấp người dân canh tác xen cây chè, dứa, sắn...

31 năm rừng được bảo vệ nhờ sức dân

Ông Đặng Văn Quang, Trưởng thôn Bản Lọt, người đã có thâm niên hơn 10 năm làm nghề “vác tù và hàng tổng” cũng là người luôn đau đáu về sự hồi sinh của những cánh rừng đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Chỉ tay về cánh rừng phía trước mặt ông cho biết: Trước đây, những quả đồi này không có một bóng cây, do năm đó người dân đốt nương đã làm thiêu rụi những cánh rừng tre nứa ở đây...

Năm 1982, toàn thôn có 43 hộ đói, nghèo, rừng không có, nên nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cũng thiếu hụt, khiến cho cuộc sống của đồng bào Dao tuyển nơi đây đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn. Bởi vậy, người dân Bản Lọt thấu hiểu việc giữ rừng quan trọng thế nào đối với đời sống của họ. Cho nên, khi những cánh rừng bắt đầu hồi sinh, người dân trong thôn đã ý thức bảo nhau và cùng cam kết bảo vệ rừng. Rồi, cùng với sự “trợ sức” của các dự án 327, dự án 661, dự án rừng phòng hộ…những cánh rừng ở Bản Lọt xanh trở lại và được người dân bảo vệ nghiêm ngặt.

Đến nay, đã qua 31 năm, rừng vẫn ngày càng xanh tốt và trù phú hơn. Bởi người Dao ở Bản Lọt gìn giữ rừng một cách thiêng liêng như báu vật, khó bề đánh mất... Lạ thường bởi cái tên Bản Lọt, theo tiếng Dao tuyển có nghĩa là “nước chảy ngược chiều”. Lạ vì vùng đất này có con suối Tòng Già chảy từ đoạn Km 21 (Quốc lộ 70) ngược lên, trái với quy luật của những con suối đổ ra sông, những con sông chảy ra biển lớn theo một hướng nhất định (Tây Bắc - Đông Nam) mà lại chảy ngược về hướng Bắc. Cái tên Bản Lọt cũng bắt nguồn từ chính sự khác thường đó.

Trưởng thôn Đặng Văn Quang cho biết: Nhà nào làm nhà hoặc cần một vài cây gỗ để sửa sang lại nhà, bếp thì báo cáo với thôn và tổ tự quản. Thôn và tổ tự quản đồng ý sẽ được vào rừng lấy gỗ về làm. Trước kia, rừng có nhiều nứa, hằng năm cứ đến mùa măng, người dân trong thôn lại thi nhau vào rừng lấy măng về bán, có năm cả thôn thu được mấy chục tấn măng khô từ rừng. Thế nhưng, giờ đây nhiều cây gỗ rừng tái sinh, diện tích cây nứa không còn mấy nữa, nên thôn quy ước chỉ cho phép người dân được vào rừng lấy cành củi khô về đun, không lấy củi để bán. Nhà nào có việc cưới, việc tang thì được vào rừng lấy măng, nhưng cũng chỉ được lấy đủ làm cỗ mà thôi...

Trong hương ước, quy ước của thôn về bảo vệ rừng ghi rõ, nếu ăn trộm măng, lấy măng trong rừng không được sự đồng ý của thôn, tổ tự quản thì sẽ bị phạt tiền. Cái quy ước bất thành văn ấy bao năm nay vẫn được chính người dân đề ra, rồi thực hiện, thế nên, dù từ những đứa trẻ chăn trâu gần rừng cũng luôn có ý thức bảo vệ rừng... Giờ được thôn thống nhất xây dựng thành hương ước, quy ước của thôn, nên được người dân cùng nhau cam kết thực hiện.

Ông Châu Đức Thanh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bản Cầm cho biết thêm: Trước năm 1979, những cánh rừng này có cả những cây gỗ to, một người ôm không xuể, nhưng sau thời gian bị cháy rụi, rừng đã không còn nữa. Sự hồi sinh đến hôm nay cũng là một kỳ tích không dễ gì làm được. Nói là rừng tái sinh chủ yếu là gỗ tạp như cây giàng giàng, ba soi, xoan đào, phay; nhưng rừng Bản Lọt vẫn còn có nhiều loại cây gỗ quý như: Sến, gù hương, lát...

Hiện tại, trăn trở của lãnh đạo xã cũng như của người dân nơi đây mong muốn có những giống cây lâm nghiệp mới trồng xen ở một số diện tích đất còn trống... để rừng Bản Lọt mãi xanh tốt, đồng thời, cũng từ đó mà người dân trồng rừng sẽ có thu nhập và sống được bằng nghề rừng.

Nếu mất rừng, tôi không làm trưởng thôn nữa

Lời nói như đinh đóng cột, Trưởng thôn người Dao tuyển đã gần 60 tuổi trăn trở: Mong muốn Nhà nước quan tâm hỗ trợ một phần kinh phí, cũng như chuyển mục đích sử dụng của rừng Bản Lọt, từ rừng kinh tế, sang rừng phòng hộ. Có như thế về lâu dài mới mong rừng sẽ được gìn giữ... Mặc dù vậy, còn làm trưởng thôn ngày nào, là người của Bản Lọt ngày nào, thì tôi vẫn quyết tâm giữ rừng ngày đó. Nếu mà rừng mất, tôi cũng không làm trưởng thôn nữa... So với cánh rừng đã đi qua 31 năm sau cuộc hồi sinh, thì 1/3 số năm ấy ông Đặng Văn Quang được tín nhiệm bầu làm trưởng thôn. Thì cũng ngần ấy năm, ông luôn tâm niệm một điều phải làm sao cho tổ tự quản bảo vệ rừng sẽ làm tốt công tác giữ gìn “lá phổi xanh” cho dân bản được nhờ...

Thuộc lòng từng mét đất ở khu rừng, thuộc từng loại cây trong rừng, nó lớn nhanh đến đâu, nên trưởng thôn sinh ra, lớn lên và gắn bó với rừng lúc nào cũng không thôi trăn trở về sự tồn sinh của những cánh rừng. Ông Quang cũng đã được đến nhiều nơi, tham gia nhiều hội thảo về bảo vệ và phát triển rừng ở một số địa phương trong tỉnh, cũng tự đúc rút ra cách làm cho thôn mình. Nhưng việc rừng Bản Lọt chuyển đổi sau quy hoạch 3 loại rừng, từ rừng phòng hộ sang rừng kinh tế (năm 2007), thì khiến cho những cánh rừng ở Bản Lọt đứng trước nguy cơ sẽ không còn nguyên vẹn nữa. Bởi theo Quyết định 178/2011/QĐ-TTg, chính sách “lấy rừng nuôi rừng”, người dân sẽ có quyền khai thác hưởng lợi từ chính diện tích mình được giao khoanh nuôi bảo vệ, nếu không được quản lý chặt sẽ bị người dân chặt tỉa vô tội vạ, lúc ấy khó lòng mà giữ được rừng.

Dù không còn khoản thù lao ít ỏi trước đây hỗ trợ cho tổ tự quản bảo vệ rừng, nhưng ông Quang và các thành viên trong thôn vẫn không lung lay ý chí, bởi mọi người đều hiểu rằng rừng chỉ có 30% mang lại giá trị kinh tế, nhưng có tới 70% là giá trị sinh thái, bảo vệ môi trường sống cho chính đồng bào mình, cũng như góp phần tích cực trong việc chống biến đổi khí hậu. Thế nên, các thành viên vẫn đồng lòng quyết tâm giữ rừng...

Hiện tại, tổ tự quản bảo vệ rừng có 22 thành viên, thôn chọn ra mỗi thành viên nhà ở gần một khoảng rừng, giao kế hoạch quản lý cho từng thành viên cụ thể. Ngay cả người nhà của thành viên tổ tự quản cũng có ý thức bảo vệ, nếu đi làm nương, thấy có người chặt phá rừng, lấy củi... đều có trách nhiệm về báo với tổ tự quản, vì thế, những hình thức xử phạt quy định trong hương ước của thôn vẫn chưa có “cơ hội” phải thực hiện.

Ngồi trên xe máy, bon bon trên tuyến đường bê tông ra Quốc lộ 70, sau lưng chúng tôi là cánh rừng xanh nơi dòng suối Tòng Già chảy ngược chiều. Cây gỗ mí (thuộc họ muồng) mùa này hoa nở tím như những chùm hoa khế treo trên cao, đâu đó những chú chim rừng hót vang, vạn vật vẫn cứ sinh sôi và con người nơi đây vẫn hằng ngày, hằng giờ âm thầm giữ rừng theo cách riêng của mình từ những điều hương ước, quy ước. Trưởng thôn Đặng Văn Quang vẫn còn nói với theo chúng tôi trước lúc chia tay: Có thời gian thì ghé thăm thôn nhé, còn người Dao ở Bản Lọt, nước suối Tòng Già còn chảy, thì lúc nào đến đây cũng vẫn sẽ thấy rừng xanh tốt như ngày hôm nay...
Xem thêm >

Theo Kiều Lê (báo Lào Cai)
(Laocai) - Nghe lời mời khá hấp dẫn về một thôn điển hình nhất của tỉnh có khu rừng tái sinh được bảo vệ từ sức dân, đã làm chúng tôi háo hức lên đường. Nằm cách thành phố Lào Cai không xa, xuôi theo Quốc lộ 70 chừng 20 km, chúng tôi có mặt tại thôn Bản Lọt, xã Bản Cầm (Bảo Thắng) trong một sớm mùa thu.

Đứng trên đồi cao, phóng tầm mắt ra xa, trải ngút ngát là một màu xanh thẳm của rừng. Toàn bộ diện tích 246 ha rừng ở đây đều xanh tốt, cây rừng chen chúc nhau, mặc dù không được quy củ như rừng trồng, song rừng ở Bản Lọt chẳng còn chỗ đất trống nào, trừ một số diện tích không đáng kể ở những mé đồi thấp người dân canh tác xen cây chè, dứa, sắn...

31 năm rừng được bảo vệ nhờ sức dân

Ông Đặng Văn Quang, Trưởng thôn Bản Lọt, người đã có thâm niên hơn 10 năm làm nghề “vác tù và hàng tổng” cũng là người luôn đau đáu về sự hồi sinh của những cánh rừng đầu những năm 80 của thế kỷ trước. Chỉ tay về cánh rừng phía trước mặt ông cho biết: Trước đây, những quả đồi này không có một bóng cây, do năm đó người dân đốt nương đã làm thiêu rụi những cánh rừng tre nứa ở đây...

Năm 1982, toàn thôn có 43 hộ đói, nghèo, rừng không có, nên nguồn nước sinh hoạt và sản xuất cũng thiếu hụt, khiến cho cuộc sống của đồng bào Dao tuyển nơi đây đã khó khăn, lại càng khó khăn hơn. Bởi vậy, người dân Bản Lọt thấu hiểu việc giữ rừng quan trọng thế nào đối với đời sống của họ. Cho nên, khi những cánh rừng bắt đầu hồi sinh, người dân trong thôn đã ý thức bảo nhau và cùng cam kết bảo vệ rừng. Rồi, cùng với sự “trợ sức” của các dự án 327, dự án 661, dự án rừng phòng hộ…những cánh rừng ở Bản Lọt xanh trở lại và được người dân bảo vệ nghiêm ngặt.

Đến nay, đã qua 31 năm, rừng vẫn ngày càng xanh tốt và trù phú hơn. Bởi người Dao ở Bản Lọt gìn giữ rừng một cách thiêng liêng như báu vật, khó bề đánh mất... Lạ thường bởi cái tên Bản Lọt, theo tiếng Dao tuyển có nghĩa là “nước chảy ngược chiều”. Lạ vì vùng đất này có con suối Tòng Già chảy từ đoạn Km 21 (Quốc lộ 70) ngược lên, trái với quy luật của những con suối đổ ra sông, những con sông chảy ra biển lớn theo một hướng nhất định (Tây Bắc - Đông Nam) mà lại chảy ngược về hướng Bắc. Cái tên Bản Lọt cũng bắt nguồn từ chính sự khác thường đó.

Trưởng thôn Đặng Văn Quang cho biết: Nhà nào làm nhà hoặc cần một vài cây gỗ để sửa sang lại nhà, bếp thì báo cáo với thôn và tổ tự quản. Thôn và tổ tự quản đồng ý sẽ được vào rừng lấy gỗ về làm. Trước kia, rừng có nhiều nứa, hằng năm cứ đến mùa măng, người dân trong thôn lại thi nhau vào rừng lấy măng về bán, có năm cả thôn thu được mấy chục tấn măng khô từ rừng. Thế nhưng, giờ đây nhiều cây gỗ rừng tái sinh, diện tích cây nứa không còn mấy nữa, nên thôn quy ước chỉ cho phép người dân được vào rừng lấy cành củi khô về đun, không lấy củi để bán. Nhà nào có việc cưới, việc tang thì được vào rừng lấy măng, nhưng cũng chỉ được lấy đủ làm cỗ mà thôi...

Trong hương ước, quy ước của thôn về bảo vệ rừng ghi rõ, nếu ăn trộm măng, lấy măng trong rừng không được sự đồng ý của thôn, tổ tự quản thì sẽ bị phạt tiền. Cái quy ước bất thành văn ấy bao năm nay vẫn được chính người dân đề ra, rồi thực hiện, thế nên, dù từ những đứa trẻ chăn trâu gần rừng cũng luôn có ý thức bảo vệ rừng... Giờ được thôn thống nhất xây dựng thành hương ước, quy ước của thôn, nên được người dân cùng nhau cam kết thực hiện.

Ông Châu Đức Thanh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Bản Cầm cho biết thêm: Trước năm 1979, những cánh rừng này có cả những cây gỗ to, một người ôm không xuể, nhưng sau thời gian bị cháy rụi, rừng đã không còn nữa. Sự hồi sinh đến hôm nay cũng là một kỳ tích không dễ gì làm được. Nói là rừng tái sinh chủ yếu là gỗ tạp như cây giàng giàng, ba soi, xoan đào, phay; nhưng rừng Bản Lọt vẫn còn có nhiều loại cây gỗ quý như: Sến, gù hương, lát...

Hiện tại, trăn trở của lãnh đạo xã cũng như của người dân nơi đây mong muốn có những giống cây lâm nghiệp mới trồng xen ở một số diện tích đất còn trống... để rừng Bản Lọt mãi xanh tốt, đồng thời, cũng từ đó mà người dân trồng rừng sẽ có thu nhập và sống được bằng nghề rừng.

Nếu mất rừng, tôi không làm trưởng thôn nữa

Lời nói như đinh đóng cột, Trưởng thôn người Dao tuyển đã gần 60 tuổi trăn trở: Mong muốn Nhà nước quan tâm hỗ trợ một phần kinh phí, cũng như chuyển mục đích sử dụng của rừng Bản Lọt, từ rừng kinh tế, sang rừng phòng hộ. Có như thế về lâu dài mới mong rừng sẽ được gìn giữ... Mặc dù vậy, còn làm trưởng thôn ngày nào, là người của Bản Lọt ngày nào, thì tôi vẫn quyết tâm giữ rừng ngày đó. Nếu mà rừng mất, tôi cũng không làm trưởng thôn nữa... So với cánh rừng đã đi qua 31 năm sau cuộc hồi sinh, thì 1/3 số năm ấy ông Đặng Văn Quang được tín nhiệm bầu làm trưởng thôn. Thì cũng ngần ấy năm, ông luôn tâm niệm một điều phải làm sao cho tổ tự quản bảo vệ rừng sẽ làm tốt công tác giữ gìn “lá phổi xanh” cho dân bản được nhờ...

Thuộc lòng từng mét đất ở khu rừng, thuộc từng loại cây trong rừng, nó lớn nhanh đến đâu, nên trưởng thôn sinh ra, lớn lên và gắn bó với rừng lúc nào cũng không thôi trăn trở về sự tồn sinh của những cánh rừng. Ông Quang cũng đã được đến nhiều nơi, tham gia nhiều hội thảo về bảo vệ và phát triển rừng ở một số địa phương trong tỉnh, cũng tự đúc rút ra cách làm cho thôn mình. Nhưng việc rừng Bản Lọt chuyển đổi sau quy hoạch 3 loại rừng, từ rừng phòng hộ sang rừng kinh tế (năm 2007), thì khiến cho những cánh rừng ở Bản Lọt đứng trước nguy cơ sẽ không còn nguyên vẹn nữa. Bởi theo Quyết định 178/2011/QĐ-TTg, chính sách “lấy rừng nuôi rừng”, người dân sẽ có quyền khai thác hưởng lợi từ chính diện tích mình được giao khoanh nuôi bảo vệ, nếu không được quản lý chặt sẽ bị người dân chặt tỉa vô tội vạ, lúc ấy khó lòng mà giữ được rừng.

Dù không còn khoản thù lao ít ỏi trước đây hỗ trợ cho tổ tự quản bảo vệ rừng, nhưng ông Quang và các thành viên trong thôn vẫn không lung lay ý chí, bởi mọi người đều hiểu rằng rừng chỉ có 30% mang lại giá trị kinh tế, nhưng có tới 70% là giá trị sinh thái, bảo vệ môi trường sống cho chính đồng bào mình, cũng như góp phần tích cực trong việc chống biến đổi khí hậu. Thế nên, các thành viên vẫn đồng lòng quyết tâm giữ rừng...

Hiện tại, tổ tự quản bảo vệ rừng có 22 thành viên, thôn chọn ra mỗi thành viên nhà ở gần một khoảng rừng, giao kế hoạch quản lý cho từng thành viên cụ thể. Ngay cả người nhà của thành viên tổ tự quản cũng có ý thức bảo vệ, nếu đi làm nương, thấy có người chặt phá rừng, lấy củi... đều có trách nhiệm về báo với tổ tự quản, vì thế, những hình thức xử phạt quy định trong hương ước của thôn vẫn chưa có “cơ hội” phải thực hiện.

Ngồi trên xe máy, bon bon trên tuyến đường bê tông ra Quốc lộ 70, sau lưng chúng tôi là cánh rừng xanh nơi dòng suối Tòng Già chảy ngược chiều. Cây gỗ mí (thuộc họ muồng) mùa này hoa nở tím như những chùm hoa khế treo trên cao, đâu đó những chú chim rừng hót vang, vạn vật vẫn cứ sinh sôi và con người nơi đây vẫn hằng ngày, hằng giờ âm thầm giữ rừng theo cách riêng của mình từ những điều hương ước, quy ước. Trưởng thôn Đặng Văn Quang vẫn còn nói với theo chúng tôi trước lúc chia tay: Có thời gian thì ghé thăm thôn nhé, còn người Dao ở Bản Lọt, nước suối Tòng Già còn chảy, thì lúc nào đến đây cũng vẫn sẽ thấy rừng xanh tốt như ngày hôm nay...
Xem thêm >

Theo Kiều Lê (báo Lào Cai)