Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Tục lạ người Xinh Mun

Trong 8 đến 12 năm ở rể, chàng trai người dân tộc Xinh Mun không được động phòng hoa chúc với người vợ trẻ, mà phải lao động trả công.

10 năm mới được động phòng

Bản Puông, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, Sơn La, bản của người Xinh Mun, nằm trên một dải đất có địa thế đặc biệt. Án ngữ ở phía tây là đỉnh Pha Lanh cao ngút ngát, nơi một giọt nước trời rơi xuống bị chẻ làm đôi, một nửa chảy về Việt Nam, một nửa ngấm vào đất Lào; phía đối diện là dòng Mã giang hung dữ, cục cằn, đêm ngày gầm gào như muốn phá nát vùng trời yên ả.

< Cây cầu tre ọp ẹp bắc qua sông Mã dẫn vào bản Puông.

Muốn đến được bản Puông phải luồn qua những con đường mòn rậm rạp dẫn lối ra bờ sông Mã, sau đó “nghênh chiến” với tử thần khi đi qua chiếc cầu tre èo ọt, nổi lềnh phềnh trên mặt nước nhờ những chiếc thùng phuy sắt gắn phía dưới.

Mặc dù đã quen thuộc với tục hôn nhân ở rể của nhiều dân tộc vùng cao Tây Bắc như Thái, Dao, Tày... , nhưng sự hà khắc và những quy định “trần đời có một” trong tục ở rể truyền thống của người dân tộc Xinh Mun vẫn khiến nhiều người lấy làm lạ lùng.

Khi cái bụng của chàng trai và cô gái đã ưng nhau bố mẹ chàng trai sẽ mang một chai rượu đến nhà gái hỏi vợ cho con. Nếu được nhà gái đồng ý, nhà trai sẽ rót rượu chung vui và bàn ngày cưới hỏi.

Lễ cưới hỏi của người Xinh Mun đơn giản đến bất ngờ. Nhà trai chỉ cần mang một con lợn hoặc một đôi gà (miễn là phải có đủ 1 chân) cùng hai vò rượu cần sang nhà gái, sau đó tổ chức mâm cơm cúng tổ tiên và làm tằng cẩu cho cô dâu (tằng cẩu là mái tóc dài búi ngược, mang một thông điệp ý nghĩa, rằng từ nay cô gái đã có chồng, bông hoa rừng đã có chủ. Bất cứ chàng trai nào cũng không được tăm tia, chọc ghẹo).


< Ông Bí thư chi bộ bản Puông kể về những phong tục kỳ lạ của dân tộc mình.

Lễ cưới đơn sơ ấy phản ánh cái nghèo đến xơ xác của người Xinh Mun. Nhà gái chịu thiệt về vật chất, nhưng bù lại, họ được sở hữu một chàng rể sức vóc, đảm đương những việc nặng nhọc nhất, từ phát nương trồng ngô đến chăn trâu cắt cỏ, đan lát các vật dụng trong gia đình… từ 8 đến 12 năm.

Trong suốt thời gian ở rể, chàng trai phải ngủ cách ly trong một căn phòng bé xíu ở đầu hồi, tuyệt đối không được nằm cùng giường với vợ vì chưa trả đủ công ơn của bố mẹ nàng dâu.

Khi con gà rừng mới cất tiếng thứ tư, trời vẫn mờ tối, chàng rể lại lục tục dậy mài dao, cắt cỏ cho trâu ăn rồi cuốc bộ lên nương cầm gậy chọc lỗ tra hạt ngô, gánh nước tưới. Thời điểm bắp ngô bắt đầu phun những sợi râu đỏ tia tía đến khi thu hoạch, chàng trai không được về nhà mà phải khuân nồi, niêu và gạo lên lán nương tự nấu ăn và canh giữ.

Sau 12 năm trả xong nợ công nhà vợ và rước nàng dâu về nhà, bố vợ sẽ trả ơn chàng rể 2 con lợn giống, 2 cái chăn, 2 cái gối và một cái đệm. Về sau, thời gian ở rể rút ngắn xuống còn 6 năm, 2 năm còn lại phải trả bằng 6 đồng bạc trắng.

Có cặp vợ chồng không kiêng được chuyện giường chiếu, xé rào luật tục bị dân bản tẩy chay, gia đình từ mặt, phải bỏ bản đi nơi khác sinh sống. May thay, tục lệ hôn nhân hà khắc này dần dần được giảm bớt.

Khổ như làm lễ cúng lúa mới

Ngày trước, đất bản Puông tháng ngày không có lịch, thế nên chẳng ai quan tâm khi nào đến rằm, bao giờ đến Tết, ngày nào phải làm giỗ tổ tiên. Đối với người Xinh Mun, “Tết” chính là ngày cúng ma bản nhằm xua đuổi mọi tai ương, đến bây giờ vẫn được duy trì thường niên.

Mỗi gia đình phải đóng góp rượu, gạo và tiền để mua một con lợn làm lễ cúng, sau đó hát hò nhảy múa linh đình. Theo một số cao niên trong bản kể lại, từ xa xưa, vào đúng ngày cúng ma bản, thầy mo sẽ làm bùa ngải để giết chết một người đi theo hầu hạ ma bản. Nhưng hành vi tàn nhẫn này đã bị xoá bỏ rất lâu.

< Ông Vì Văn Ngói và người con trai đều xăm họ tên và năm sinh của mình lên tay để nhớ.

Khi những bông lúa chín nhuộm vàng nương ruộng cũng là lúc các gia đình người Xinh Mun cúng hồn lúa. Nếu chưa làm nghi lễ này thì lúa chín rụng cũng không được thu hoạch, đói đến mấy cũng không được phép cầm liềm gặt, phải ăn củ nâu, củ mài sống qua ngày đoạn tháng.

Bởi, tổ tiên chưa được ăn thì con cháu chưa đến lượt. Lễ cúng phải có ít nhất 7 con vật sống trên rừng (như chuột dúi, gà rừng, chim, sâu măng - cây măng nhú cao đến đầu gối có sâu đục bên trong, lợn rừng, rắn, thằn lằn); ít nhất 7 con vật sống dưới nước (tôm, cua, cá, ốc, lươn, hến, trai); tất cả các loại dưa trồng trên nương; 4-5 ống cơm lam và một quả dừa.

Theo báo Nông Nghiệp VN
Trong 8 đến 12 năm ở rể, chàng trai người dân tộc Xinh Mun không được động phòng hoa chúc với người vợ trẻ, mà phải lao động trả công.

10 năm mới được động phòng

Bản Puông, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã, Sơn La, bản của người Xinh Mun, nằm trên một dải đất có địa thế đặc biệt. Án ngữ ở phía tây là đỉnh Pha Lanh cao ngút ngát, nơi một giọt nước trời rơi xuống bị chẻ làm đôi, một nửa chảy về Việt Nam, một nửa ngấm vào đất Lào; phía đối diện là dòng Mã giang hung dữ, cục cằn, đêm ngày gầm gào như muốn phá nát vùng trời yên ả.

< Cây cầu tre ọp ẹp bắc qua sông Mã dẫn vào bản Puông.

Muốn đến được bản Puông phải luồn qua những con đường mòn rậm rạp dẫn lối ra bờ sông Mã, sau đó “nghênh chiến” với tử thần khi đi qua chiếc cầu tre èo ọt, nổi lềnh phềnh trên mặt nước nhờ những chiếc thùng phuy sắt gắn phía dưới.

Mặc dù đã quen thuộc với tục hôn nhân ở rể của nhiều dân tộc vùng cao Tây Bắc như Thái, Dao, Tày... , nhưng sự hà khắc và những quy định “trần đời có một” trong tục ở rể truyền thống của người dân tộc Xinh Mun vẫn khiến nhiều người lấy làm lạ lùng.

Khi cái bụng của chàng trai và cô gái đã ưng nhau bố mẹ chàng trai sẽ mang một chai rượu đến nhà gái hỏi vợ cho con. Nếu được nhà gái đồng ý, nhà trai sẽ rót rượu chung vui và bàn ngày cưới hỏi.

Lễ cưới hỏi của người Xinh Mun đơn giản đến bất ngờ. Nhà trai chỉ cần mang một con lợn hoặc một đôi gà (miễn là phải có đủ 1 chân) cùng hai vò rượu cần sang nhà gái, sau đó tổ chức mâm cơm cúng tổ tiên và làm tằng cẩu cho cô dâu (tằng cẩu là mái tóc dài búi ngược, mang một thông điệp ý nghĩa, rằng từ nay cô gái đã có chồng, bông hoa rừng đã có chủ. Bất cứ chàng trai nào cũng không được tăm tia, chọc ghẹo).


< Ông Bí thư chi bộ bản Puông kể về những phong tục kỳ lạ của dân tộc mình.

Lễ cưới đơn sơ ấy phản ánh cái nghèo đến xơ xác của người Xinh Mun. Nhà gái chịu thiệt về vật chất, nhưng bù lại, họ được sở hữu một chàng rể sức vóc, đảm đương những việc nặng nhọc nhất, từ phát nương trồng ngô đến chăn trâu cắt cỏ, đan lát các vật dụng trong gia đình… từ 8 đến 12 năm.

Trong suốt thời gian ở rể, chàng trai phải ngủ cách ly trong một căn phòng bé xíu ở đầu hồi, tuyệt đối không được nằm cùng giường với vợ vì chưa trả đủ công ơn của bố mẹ nàng dâu.

Khi con gà rừng mới cất tiếng thứ tư, trời vẫn mờ tối, chàng rể lại lục tục dậy mài dao, cắt cỏ cho trâu ăn rồi cuốc bộ lên nương cầm gậy chọc lỗ tra hạt ngô, gánh nước tưới. Thời điểm bắp ngô bắt đầu phun những sợi râu đỏ tia tía đến khi thu hoạch, chàng trai không được về nhà mà phải khuân nồi, niêu và gạo lên lán nương tự nấu ăn và canh giữ.

Sau 12 năm trả xong nợ công nhà vợ và rước nàng dâu về nhà, bố vợ sẽ trả ơn chàng rể 2 con lợn giống, 2 cái chăn, 2 cái gối và một cái đệm. Về sau, thời gian ở rể rút ngắn xuống còn 6 năm, 2 năm còn lại phải trả bằng 6 đồng bạc trắng.

Có cặp vợ chồng không kiêng được chuyện giường chiếu, xé rào luật tục bị dân bản tẩy chay, gia đình từ mặt, phải bỏ bản đi nơi khác sinh sống. May thay, tục lệ hôn nhân hà khắc này dần dần được giảm bớt.

Khổ như làm lễ cúng lúa mới

Ngày trước, đất bản Puông tháng ngày không có lịch, thế nên chẳng ai quan tâm khi nào đến rằm, bao giờ đến Tết, ngày nào phải làm giỗ tổ tiên. Đối với người Xinh Mun, “Tết” chính là ngày cúng ma bản nhằm xua đuổi mọi tai ương, đến bây giờ vẫn được duy trì thường niên.

Mỗi gia đình phải đóng góp rượu, gạo và tiền để mua một con lợn làm lễ cúng, sau đó hát hò nhảy múa linh đình. Theo một số cao niên trong bản kể lại, từ xa xưa, vào đúng ngày cúng ma bản, thầy mo sẽ làm bùa ngải để giết chết một người đi theo hầu hạ ma bản. Nhưng hành vi tàn nhẫn này đã bị xoá bỏ rất lâu.

< Ông Vì Văn Ngói và người con trai đều xăm họ tên và năm sinh của mình lên tay để nhớ.

Khi những bông lúa chín nhuộm vàng nương ruộng cũng là lúc các gia đình người Xinh Mun cúng hồn lúa. Nếu chưa làm nghi lễ này thì lúa chín rụng cũng không được thu hoạch, đói đến mấy cũng không được phép cầm liềm gặt, phải ăn củ nâu, củ mài sống qua ngày đoạn tháng.

Bởi, tổ tiên chưa được ăn thì con cháu chưa đến lượt. Lễ cúng phải có ít nhất 7 con vật sống trên rừng (như chuột dúi, gà rừng, chim, sâu măng - cây măng nhú cao đến đầu gối có sâu đục bên trong, lợn rừng, rắn, thằn lằn); ít nhất 7 con vật sống dưới nước (tôm, cua, cá, ốc, lươn, hến, trai); tất cả các loại dưa trồng trên nương; 4-5 ống cơm lam và một quả dừa.

Theo báo Nông Nghiệp VN

Nghĩa địa treo ở Kon Tum

(VnExpress) - Với gần 3 vạn người, là dân tộc bản địa có dân số đứng thứ 3 tỉnh Kon Tum: người Jẻ - Triêng sống chủ yếu ở huyện Đăkglei, nơi tiếp giáp với tỉnh Quảng Nam bằng ngọn núi Ngok Linh cao vút quanh năm mây phủ.

< Vẻ đẹp thanh bình của làng Vai Trang, Đắk Long, Đắk Glei, Kon Tum.

Nơi đây xưa kia là vùng rừng thiêng nước độc với bao nhiêu câu chuyện rùng rợn về tục 'trả đầu', 'mùa săn máu', 'túc táng treo', 'nhà đẻ'… Những năm đầu thế kỉ 21, con đường Trường Sơn công nghiệp hoá như một chiếc chìa khoá mở toang vùng đất nguyên sơ của vùng cực bắc Tây Nguyên này…


< Một góc “rừng ma”, nơi táng treo người chết của dân làng Vai Trang, xã Đắk Long, huyện Đắk Ki, tỉnh Kon Tum.

Dù tục táng treo của người Giẻ Triêng ở làng Vai Trang, Đắk Long, Đắk Glei gần như không còn nữa, nhưng khu rừng “thiên táng” vẫn chẳng hề mất đi theo năm tháng.

Như bao ngôi làng của núi rừng Tây Nguyên, Vai Trang mang vẻ đẹp mộc mạc, đặc trưng của đông bào Giẻ Triêng sinh sống ở đây. Nếu sáng sớm làng lặng chìm trong màn sương mù đặc quánh thì trong ánh chiều tà, Vai Trang lại ánh lên màu vàng như rót mật trên khắp các mái nhà.

Theo con đường mòn đất đỏ tung bụi mịt mù về đến tận làng, bạn sẽ thấy lác đác vài người phụ nữ Giẻ Triêng gùi củi trên lưng trở về từ nương rẫy. Không chỉ cuốn hút bởi vẻ đẹp yên bình của cảnh sắc thiên nhiên hòa quyện với cuộc sống lao động cần cù chất phác, Vai Trang còn nổi tiếng với những câu chuyện tâm linh kỳ bí.

Với người Giẻ Triêng xưa, người chết thuộc gia đình giàu có, quyền quý đều không phải chôn mà được treo lơ lửng trong một khu rừng rậm rạp, vắng bóng người. Ngày nay, khi đến thăm làng, người ta thường tìm đến khu nghĩa địa treo mà người dân địa phương thường gọi là “rừng ma”.

Nằm ở phía mặt trời lặn, nghĩa địa treo ở Vai Trang là một khu rừng cách làng chưa đầy 2 km, nhưng tĩnh mịch đến lạ thường. Nhìn từ phía ngoài, “rừng ma” không có những cây cổ thụ nhưng âm u bởi cây bụi rậm rạp, um tùm che khuất. Chỉ cần cơn gió thổi qua cũng đủ để cây lá xào xạc và nhiều người phải giật mình, thậm chí nổi da gà, chân lông dựng ngược.

Để vào bên trong khu táng, bất cứ ai cũng phải vạch cây, luồn lá, có khi phải mang theo dao để phạt cây bụi, dây leo. Vào những ngày mây mù, cả khu rừng như được bao trùm một không khí liêu trai, bí ẩn. Một vài ngôi mộ được xây bằng gạch đá, xi măng của người Kinh được đặt ở bên ngoài.


< "Rừng ma" gây ám ảnh với nhiều người bởi những cỗ quan tài treo trên cọc gỗ.

Đi vào sâu khoảng vài chục mét, những chiếc quan tài treo sẽ dần hiện ra trước mắt. Chỉ hơn 200 m2 nhưng khu nghĩa địa này có hơn chục cỗ áo quan. Ở đây, người Giẻ Triêng thay vì dùng dây treo, họ dùng 2 hoặc 4 cọc gỗ nâng quan tài lên lơ lửng. Hầu hết quan tài được làm bằng gỗ tròn, nặng đến cả tấn và treo cách đất chừng 70 cm.

Khắp nơi, cứ cách vài mét lại thấy xuất hiện những chiếc quan tài treo lủng lẳng. Các cỗ quan tài vợ chồng được treo cạnh nhau, vợ bên trái còn chồng bên phải. Cháu chắt sẽ được đặt dưới hòm của ông bà, con cái thì treo xung quanh. Trải qua thời gian và mưa nắng, ngày nay nhiều cỗ quan tài đã mục nát, rơi xuống đất vì cọc treo đã mục gãy, chìm khuất trong đám lau lách và dây leo rừng.

Tuy nhiên, đáng chú ý nhất trong khu “rừng ma” này là hai chiếc quan tài đặt song song cạnh nhau, làm bằng nhôm, được treo trên 4 cọc gỗ kiên cố. Chừng đó để thấy rằng, người được táng thuộc dòng dõi gia đình giàu có, quyền quý bậc nhất trong làng. Phía dưới của quan tài lỉnh kỉnh những đồ vật mà gia đình chia cho người chết đem về thế giới bên kia sử dụng. Nổi bật lên là hai chiếc ghè rượu cổ, một cái còn khá nguyên vẹn.

< Nhiều cỗ quan tài đổ gục do cọc gỗ gãy mục càng làm khung cảnh ở đây tan tác, tiêu điều.

Người Giẻ Triêng quan niệm, người chết cũng cần làm ăn, sinh sống nên đây chính là phần của cải mà người còn sống chia cho người đã khuất để họ không phải "sống" cuộc đời nghèo khổ, túng thiếu. Và cứ thế, những linh hồn Giẻ Triêng được che chở dưới tán rừng già và những bụi le, lồ ô dựng đứng.

Đến với nghĩa địa treo trong không gian thâm u giữa núi rừng Tây Nguyên, sẽ không thể tránh nói cảm giác ớn lạnh hay rùng mình sợ sệt. Nhưng hơn cả, bạn sẽ hiểu thêm một phần văn hóa cổ xưa của đồng bào Giẻ Triêng một thời.

Theo Vy An (VnExpress)
(VnExpress) - Với gần 3 vạn người, là dân tộc bản địa có dân số đứng thứ 3 tỉnh Kon Tum: người Jẻ - Triêng sống chủ yếu ở huyện Đăkglei, nơi tiếp giáp với tỉnh Quảng Nam bằng ngọn núi Ngok Linh cao vút quanh năm mây phủ.

< Vẻ đẹp thanh bình của làng Vai Trang, Đắk Long, Đắk Glei, Kon Tum.

Nơi đây xưa kia là vùng rừng thiêng nước độc với bao nhiêu câu chuyện rùng rợn về tục 'trả đầu', 'mùa săn máu', 'túc táng treo', 'nhà đẻ'… Những năm đầu thế kỉ 21, con đường Trường Sơn công nghiệp hoá như một chiếc chìa khoá mở toang vùng đất nguyên sơ của vùng cực bắc Tây Nguyên này…


< Một góc “rừng ma”, nơi táng treo người chết của dân làng Vai Trang, xã Đắk Long, huyện Đắk Ki, tỉnh Kon Tum.

Dù tục táng treo của người Giẻ Triêng ở làng Vai Trang, Đắk Long, Đắk Glei gần như không còn nữa, nhưng khu rừng “thiên táng” vẫn chẳng hề mất đi theo năm tháng.

Như bao ngôi làng của núi rừng Tây Nguyên, Vai Trang mang vẻ đẹp mộc mạc, đặc trưng của đông bào Giẻ Triêng sinh sống ở đây. Nếu sáng sớm làng lặng chìm trong màn sương mù đặc quánh thì trong ánh chiều tà, Vai Trang lại ánh lên màu vàng như rót mật trên khắp các mái nhà.

Theo con đường mòn đất đỏ tung bụi mịt mù về đến tận làng, bạn sẽ thấy lác đác vài người phụ nữ Giẻ Triêng gùi củi trên lưng trở về từ nương rẫy. Không chỉ cuốn hút bởi vẻ đẹp yên bình của cảnh sắc thiên nhiên hòa quyện với cuộc sống lao động cần cù chất phác, Vai Trang còn nổi tiếng với những câu chuyện tâm linh kỳ bí.

Với người Giẻ Triêng xưa, người chết thuộc gia đình giàu có, quyền quý đều không phải chôn mà được treo lơ lửng trong một khu rừng rậm rạp, vắng bóng người. Ngày nay, khi đến thăm làng, người ta thường tìm đến khu nghĩa địa treo mà người dân địa phương thường gọi là “rừng ma”.

Nằm ở phía mặt trời lặn, nghĩa địa treo ở Vai Trang là một khu rừng cách làng chưa đầy 2 km, nhưng tĩnh mịch đến lạ thường. Nhìn từ phía ngoài, “rừng ma” không có những cây cổ thụ nhưng âm u bởi cây bụi rậm rạp, um tùm che khuất. Chỉ cần cơn gió thổi qua cũng đủ để cây lá xào xạc và nhiều người phải giật mình, thậm chí nổi da gà, chân lông dựng ngược.

Để vào bên trong khu táng, bất cứ ai cũng phải vạch cây, luồn lá, có khi phải mang theo dao để phạt cây bụi, dây leo. Vào những ngày mây mù, cả khu rừng như được bao trùm một không khí liêu trai, bí ẩn. Một vài ngôi mộ được xây bằng gạch đá, xi măng của người Kinh được đặt ở bên ngoài.


< "Rừng ma" gây ám ảnh với nhiều người bởi những cỗ quan tài treo trên cọc gỗ.

Đi vào sâu khoảng vài chục mét, những chiếc quan tài treo sẽ dần hiện ra trước mắt. Chỉ hơn 200 m2 nhưng khu nghĩa địa này có hơn chục cỗ áo quan. Ở đây, người Giẻ Triêng thay vì dùng dây treo, họ dùng 2 hoặc 4 cọc gỗ nâng quan tài lên lơ lửng. Hầu hết quan tài được làm bằng gỗ tròn, nặng đến cả tấn và treo cách đất chừng 70 cm.

Khắp nơi, cứ cách vài mét lại thấy xuất hiện những chiếc quan tài treo lủng lẳng. Các cỗ quan tài vợ chồng được treo cạnh nhau, vợ bên trái còn chồng bên phải. Cháu chắt sẽ được đặt dưới hòm của ông bà, con cái thì treo xung quanh. Trải qua thời gian và mưa nắng, ngày nay nhiều cỗ quan tài đã mục nát, rơi xuống đất vì cọc treo đã mục gãy, chìm khuất trong đám lau lách và dây leo rừng.

Tuy nhiên, đáng chú ý nhất trong khu “rừng ma” này là hai chiếc quan tài đặt song song cạnh nhau, làm bằng nhôm, được treo trên 4 cọc gỗ kiên cố. Chừng đó để thấy rằng, người được táng thuộc dòng dõi gia đình giàu có, quyền quý bậc nhất trong làng. Phía dưới của quan tài lỉnh kỉnh những đồ vật mà gia đình chia cho người chết đem về thế giới bên kia sử dụng. Nổi bật lên là hai chiếc ghè rượu cổ, một cái còn khá nguyên vẹn.

< Nhiều cỗ quan tài đổ gục do cọc gỗ gãy mục càng làm khung cảnh ở đây tan tác, tiêu điều.

Người Giẻ Triêng quan niệm, người chết cũng cần làm ăn, sinh sống nên đây chính là phần của cải mà người còn sống chia cho người đã khuất để họ không phải "sống" cuộc đời nghèo khổ, túng thiếu. Và cứ thế, những linh hồn Giẻ Triêng được che chở dưới tán rừng già và những bụi le, lồ ô dựng đứng.

Đến với nghĩa địa treo trong không gian thâm u giữa núi rừng Tây Nguyên, sẽ không thể tránh nói cảm giác ớn lạnh hay rùng mình sợ sệt. Nhưng hơn cả, bạn sẽ hiểu thêm một phần văn hóa cổ xưa của đồng bào Giẻ Triêng một thời.

Theo Vy An (VnExpress)

Treo chó chết trước cổng nhà

(VTC News) - Đang phóng xe vi vu trên con đường đèo dốc uốn lượn, ngắm cảnh núi đá nhấp nhô, đẹp như cổ tích, qua bản Chi Lầu Dung (Tát Ngà, Mèo Vạc, Hà Giang), chúng tôi bỗng khựng lại bởi một cảnh tượng kỳ lạ: Trước ngôi nhà gỗ thấp lè lè, ẩn sau ruộng ngôi xanh mướt, ngay cạnh đường, có một con vật đen thui, lông dài phủ mặt, treo lủng lẳng.

Thấy sự lạ, chúng tôi dừng xe, mỗi người phán một kiểu, người bảo chồn, người bảo cáo, người bảo chó rừng, chó sói… Rốt cục, chưa rõ con gì. Nhưng cái cách treo con vật lủng liểng trên cổng nhà, với cái mùi thối nồng nặc tỏa ra, thì quả thực kinh hãi.

Chui qua cái cổng dựng tạm bằng mấy cành cây, treo con chó đen thui, theo lối nhỏ, chúng tôi tìm vào ngôi nhà thấp lè tè bên vệ đường. Nhà không có cánh cửa, nhưng chẳng có ai. Đồng bào Mông thường lên nương cày cuốc, hoặc vào rừng kiếm củi, đặt bẫy từ sáng sớm, đến chiều tối mới về.

< Hình ảnh một chú chó chết treo trước cổng, ngay bên đường.

Mặt trời ngấp nghé bên kia dãy núi, bóng tối bủa vây thung lũng, thì thấy một người phụ nữ đeo bó cỏ sau lưng về nhà. Chúng tôi gọi bà hỏi chuyện, nhưng bà chỉ cười bẽn lẽn, không bắt lời, cứ cắm cúi đi, tỏ vẻ xấu hổ. Bà chui tọt vào trong nhà, ngồi lỳ bên bếp lửa. Thất vọng quay ra, thì lại gặp một thanh niên lững thững đi về, lưng đeo dao phát. Nhưng hỏi gì, anh cũng chỉ “chư pâu” (không biết).

Xã Tát Ngà núi đá lởm chởm, đá đen xám ngắt, nhìn đâu cũng chỉ thấy đá. Đá dềnh lên trong những ánh mắt u buồn. Đồng bào ngày đêm cày cuốc, trần lưng trên núi đá mà vẫn đói ăn. Điện vẫn chưa có, cuộc sống tối tăm, hủ tục từ ngàn năm nay dường như vẫn nguyên vẹn ở vùng núi đá này. Tìm được người nói tiếng phổ thông ở đây quả là khó.

Mãi sau, thấy ánh đèn xe máy lấp loáng từ chân dốc lên, tôi ra đường vẫy, “bắt cóc” được một thanh niên đi từ trong xã Nậm Ban ra thị trấn Mèo Vạc. Anh thanh niên người Giáy giới thiệu tên là Lý A Sung, nhà ở xã Nậm Ban, chuyên nghề “quặng tặc” bán sang Trung Quốc. Giao du, va chạm nhiều, nên Sung biết nhiều… “ngoại ngữ”. Lý A Sung biết 3 thứ tiếng, gồm tiếng Giáy, Mông, và tiếng phổ thông.

Qua phiên dịch của Sung, chúng tôi mới biết sơ qua hành động treo chó chết lủng lẳng trước nhà của đồng bào Mông nơi đây. Sung vào trao đổi với anh chàng chủ nhà nhỏ thó, rồi phiên dịch lại cho tôi. Chủ ngôi nhà này là Vàng A Lếnh, năm nay 18 tuổi.


< Vàng A Lếch.

Lếnh bảo, nhà neo đơn, lại nghèo nhất bản Chi Lầu Dung. Bố mẹ sinh 5 lần, nhưng chỉ nuôi lớn được Lếnh và người chị gái. Chị gái đã lấy chồng, sinh con, nhưng vợ chồng con cái sống tít trên núi đá tai mèo, quanh năm quần quật với núi đá nương ngô, đến mèn mén cũng chẳng có đủ để ăn. Xưa kia, nhà Lếnh ở sâu trong núi, nhưng được sự động viên của chính quyền, bố mẹ Lếnh đã xuống núi, dựng ngôi nhà ở gần đường, những mong cuộc sống đổi thay.

Tuy nhiên, từ ngày xuống núi, tai họa liên tiếp ập xuống gia đình Lếnh. Dựng nhà xong, bố Lếnh thường xuyên ốm đau, quặt quẹo, chẳng còn sức lực lao động nữa.


< Bùa chú của đồng bào dân tộc Mông cũng được treo trước nhà.

Đồng bào Mông nơi đây ốm đau không đi bệnh viện, mà mời thầy cúng bắt ma. Thầy cúng, thầy mo khắp nơi được mời đến, cúng bái tốn kém không biết bao nhiêu mà kể, nhưng ông vẫn không qua khỏi. Bố Lếnh đã về với đá từ 3 năm trước, để lại hai mẹ con Lếnh trong ngôi nhà hoang tàn giữa núi đá mênh mông.

Đầu năm nay, theo đám bạn đi chợ phiên Mèo Vạc, Lếnh đã gặp một cô gái, hơn Lếnh 3 tuổi. Hai người trò chuyện, rồi tâm đầu ý hợp. Nàng say tiếng kèn môi và men tình của Lếnh. Lếnh kéo nàng về làm vợ. Nhà cả hai cùng nghèo, thông cảm với hoàn cảnh của nhau, nên lễ cưới cũng đơn giản với con lợn, mấy con gà, vài hũ rượu và thủ tục cúng bái của thầy mo.

Nhắc đến người vợ, Lếnh kéo vạt áo nhàu nhĩ màu đất lau nước mắt. Về ở với nhau, miếng ăn chẳng có, thấy tương lai mịt mù, tăm tối, nên vợ Lếnh đã đổi lòng. Nàng nói thẳng với Lếnh rằng, không muốn ở với nhau nữa, muốn đi lấy chồng khác.

Và con chim đã nhẫn tâm bỏ tổ. Vợ Lếnh theo một cô bạn trong bản bỏ đi mất. Nàng còn nhắn nhủ lại qua một người trong bản rằng, nàng đã sang Trung Quốc tìm chồng, không bao giờ về nữa. Nàng xin lỗi Lếnh và mong Lếnh tìm thấy người đàn ông khác. Lấy vợ chưa được tuần trăng, đã lại mất vợ, Lếnh chỉ biết ôm mặt khóc, tủi cho phận mình.

Mẹ Lếnh, người đàn bà lam lũ đã phải chịu quá nhiều khổ đau. Nỗi đau mất chồng chưa nguôi, thì nỗi đau mất con dâu, chứng kiến cảnh con trai đau khổ vật vã, khiến bà đổ quỵ. Bà không thiết ăn, không thiết làm gì nữa. Bà nằm bẹp trên giường, miệng rên rỉ ngày đêm không ngớt. Không biết bấu víu vào đâu, Lếnh hoang mang tột độ. Các bác, các chú đã đến nhà, họp bàn, và quyết định mời thầy cúng đến đuổi tà.

Thầy cúng được rước đến nhà Lếnh. Thầy cúng phán: “Trong nhà có nhiều ma quá. Bọn ma nó tìm cách làm hại gia đình, khiến gia đình ly tán, tan nát. Chỉ còn cách đuổi bọn ma đi, thì mới hết bệnh, hết vận rủi”.

< Tục lệ này sẽ được con cháu dân tộc Mông truyền nhau qua các thế hệ và xem đó như một nét văn hóa đặc trưng.

Đồng bào Mông ở vùng đất địa đầu Hà Giang đều rất sợ ma. Họ nhìn đâu cũng ra ma. Nào ma gà, ma xó, ma suối, ma cây, ma góc bếp, đặc biệt là con ma ngũ hải chuyên hại người. Vậy nên, trong gia đình, dòng họ, bản làng có gì bất thường, họ đổ riệt cho những con ma hành. Con người ốm đau, bệnh tật, buồn phiền... cũng đều do con ma cả. Con ma là thứ ám ảnh vô hình vây quanh cuộc sống của họ.
Có vô số sách trừ ma, đuổi tà, nhưng cái cách trừ tà của đồng bào Mông ở vùng đất xa tít xa tắp, tận cùng của địa đầu Tổ quốc này, thì quả thực quá kỳ lạ. Họ giết chó, rồi treo xác chó trước cổng nhà để trừ ma.

Theo VTC News
(VTC News) - Đang phóng xe vi vu trên con đường đèo dốc uốn lượn, ngắm cảnh núi đá nhấp nhô, đẹp như cổ tích, qua bản Chi Lầu Dung (Tát Ngà, Mèo Vạc, Hà Giang), chúng tôi bỗng khựng lại bởi một cảnh tượng kỳ lạ: Trước ngôi nhà gỗ thấp lè lè, ẩn sau ruộng ngôi xanh mướt, ngay cạnh đường, có một con vật đen thui, lông dài phủ mặt, treo lủng lẳng.

Thấy sự lạ, chúng tôi dừng xe, mỗi người phán một kiểu, người bảo chồn, người bảo cáo, người bảo chó rừng, chó sói… Rốt cục, chưa rõ con gì. Nhưng cái cách treo con vật lủng liểng trên cổng nhà, với cái mùi thối nồng nặc tỏa ra, thì quả thực kinh hãi.

Chui qua cái cổng dựng tạm bằng mấy cành cây, treo con chó đen thui, theo lối nhỏ, chúng tôi tìm vào ngôi nhà thấp lè tè bên vệ đường. Nhà không có cánh cửa, nhưng chẳng có ai. Đồng bào Mông thường lên nương cày cuốc, hoặc vào rừng kiếm củi, đặt bẫy từ sáng sớm, đến chiều tối mới về.

< Hình ảnh một chú chó chết treo trước cổng, ngay bên đường.

Mặt trời ngấp nghé bên kia dãy núi, bóng tối bủa vây thung lũng, thì thấy một người phụ nữ đeo bó cỏ sau lưng về nhà. Chúng tôi gọi bà hỏi chuyện, nhưng bà chỉ cười bẽn lẽn, không bắt lời, cứ cắm cúi đi, tỏ vẻ xấu hổ. Bà chui tọt vào trong nhà, ngồi lỳ bên bếp lửa. Thất vọng quay ra, thì lại gặp một thanh niên lững thững đi về, lưng đeo dao phát. Nhưng hỏi gì, anh cũng chỉ “chư pâu” (không biết).

Xã Tát Ngà núi đá lởm chởm, đá đen xám ngắt, nhìn đâu cũng chỉ thấy đá. Đá dềnh lên trong những ánh mắt u buồn. Đồng bào ngày đêm cày cuốc, trần lưng trên núi đá mà vẫn đói ăn. Điện vẫn chưa có, cuộc sống tối tăm, hủ tục từ ngàn năm nay dường như vẫn nguyên vẹn ở vùng núi đá này. Tìm được người nói tiếng phổ thông ở đây quả là khó.

Mãi sau, thấy ánh đèn xe máy lấp loáng từ chân dốc lên, tôi ra đường vẫy, “bắt cóc” được một thanh niên đi từ trong xã Nậm Ban ra thị trấn Mèo Vạc. Anh thanh niên người Giáy giới thiệu tên là Lý A Sung, nhà ở xã Nậm Ban, chuyên nghề “quặng tặc” bán sang Trung Quốc. Giao du, va chạm nhiều, nên Sung biết nhiều… “ngoại ngữ”. Lý A Sung biết 3 thứ tiếng, gồm tiếng Giáy, Mông, và tiếng phổ thông.

Qua phiên dịch của Sung, chúng tôi mới biết sơ qua hành động treo chó chết lủng lẳng trước nhà của đồng bào Mông nơi đây. Sung vào trao đổi với anh chàng chủ nhà nhỏ thó, rồi phiên dịch lại cho tôi. Chủ ngôi nhà này là Vàng A Lếnh, năm nay 18 tuổi.


< Vàng A Lếch.

Lếnh bảo, nhà neo đơn, lại nghèo nhất bản Chi Lầu Dung. Bố mẹ sinh 5 lần, nhưng chỉ nuôi lớn được Lếnh và người chị gái. Chị gái đã lấy chồng, sinh con, nhưng vợ chồng con cái sống tít trên núi đá tai mèo, quanh năm quần quật với núi đá nương ngô, đến mèn mén cũng chẳng có đủ để ăn. Xưa kia, nhà Lếnh ở sâu trong núi, nhưng được sự động viên của chính quyền, bố mẹ Lếnh đã xuống núi, dựng ngôi nhà ở gần đường, những mong cuộc sống đổi thay.

Tuy nhiên, từ ngày xuống núi, tai họa liên tiếp ập xuống gia đình Lếnh. Dựng nhà xong, bố Lếnh thường xuyên ốm đau, quặt quẹo, chẳng còn sức lực lao động nữa.


< Bùa chú của đồng bào dân tộc Mông cũng được treo trước nhà.

Đồng bào Mông nơi đây ốm đau không đi bệnh viện, mà mời thầy cúng bắt ma. Thầy cúng, thầy mo khắp nơi được mời đến, cúng bái tốn kém không biết bao nhiêu mà kể, nhưng ông vẫn không qua khỏi. Bố Lếnh đã về với đá từ 3 năm trước, để lại hai mẹ con Lếnh trong ngôi nhà hoang tàn giữa núi đá mênh mông.

Đầu năm nay, theo đám bạn đi chợ phiên Mèo Vạc, Lếnh đã gặp một cô gái, hơn Lếnh 3 tuổi. Hai người trò chuyện, rồi tâm đầu ý hợp. Nàng say tiếng kèn môi và men tình của Lếnh. Lếnh kéo nàng về làm vợ. Nhà cả hai cùng nghèo, thông cảm với hoàn cảnh của nhau, nên lễ cưới cũng đơn giản với con lợn, mấy con gà, vài hũ rượu và thủ tục cúng bái của thầy mo.

Nhắc đến người vợ, Lếnh kéo vạt áo nhàu nhĩ màu đất lau nước mắt. Về ở với nhau, miếng ăn chẳng có, thấy tương lai mịt mù, tăm tối, nên vợ Lếnh đã đổi lòng. Nàng nói thẳng với Lếnh rằng, không muốn ở với nhau nữa, muốn đi lấy chồng khác.

Và con chim đã nhẫn tâm bỏ tổ. Vợ Lếnh theo một cô bạn trong bản bỏ đi mất. Nàng còn nhắn nhủ lại qua một người trong bản rằng, nàng đã sang Trung Quốc tìm chồng, không bao giờ về nữa. Nàng xin lỗi Lếnh và mong Lếnh tìm thấy người đàn ông khác. Lấy vợ chưa được tuần trăng, đã lại mất vợ, Lếnh chỉ biết ôm mặt khóc, tủi cho phận mình.

Mẹ Lếnh, người đàn bà lam lũ đã phải chịu quá nhiều khổ đau. Nỗi đau mất chồng chưa nguôi, thì nỗi đau mất con dâu, chứng kiến cảnh con trai đau khổ vật vã, khiến bà đổ quỵ. Bà không thiết ăn, không thiết làm gì nữa. Bà nằm bẹp trên giường, miệng rên rỉ ngày đêm không ngớt. Không biết bấu víu vào đâu, Lếnh hoang mang tột độ. Các bác, các chú đã đến nhà, họp bàn, và quyết định mời thầy cúng đến đuổi tà.

Thầy cúng được rước đến nhà Lếnh. Thầy cúng phán: “Trong nhà có nhiều ma quá. Bọn ma nó tìm cách làm hại gia đình, khiến gia đình ly tán, tan nát. Chỉ còn cách đuổi bọn ma đi, thì mới hết bệnh, hết vận rủi”.

< Tục lệ này sẽ được con cháu dân tộc Mông truyền nhau qua các thế hệ và xem đó như một nét văn hóa đặc trưng.

Đồng bào Mông ở vùng đất địa đầu Hà Giang đều rất sợ ma. Họ nhìn đâu cũng ra ma. Nào ma gà, ma xó, ma suối, ma cây, ma góc bếp, đặc biệt là con ma ngũ hải chuyên hại người. Vậy nên, trong gia đình, dòng họ, bản làng có gì bất thường, họ đổ riệt cho những con ma hành. Con người ốm đau, bệnh tật, buồn phiền... cũng đều do con ma cả. Con ma là thứ ám ảnh vô hình vây quanh cuộc sống của họ.
Có vô số sách trừ ma, đuổi tà, nhưng cái cách trừ tà của đồng bào Mông ở vùng đất xa tít xa tắp, tận cùng của địa đầu Tổ quốc này, thì quả thực quá kỳ lạ. Họ giết chó, rồi treo xác chó trước cổng nhà để trừ ma.

Theo VTC News

Về thăm chợ nổi Trà Ôn.

Trà Ôn - một trong những vùng đất cây lành, trái ngọt của vùng ĐBSCL thơ mộng. Trên bờ là những khu vườn, những dãy cù lao cây xanh trái ngọt, dưới sông tàu ghe chờ đón để mang những sản vật của vùng đất phù sa đến với mọi miền đất nước.

Tuyến giao thông thuỷ qua địa bàn Trà Ôn là đường huyết mạch nối liền giữa Thành phố HCM xuống tận Cà Mau, kênh xáng Lục Sĩ Thành cắt ngang Cù Lao Mây đi tắt qua bờ Tây sông Hậu đến Cái Côn, Ngã Bảy, Phụng Hiệp… đã rút ngắn khoảng cách so với trước. Tại vàm Trà Ôn, ngã tư sông Hậu giáp với Sông Măng Thít và kênh xáng Lục Sĩ Thành, những thuyền thương hồ neo đậu chờ con nước lớn, chờ mối hàng, trao đổi mua bán dần dà trở thành nơi họp chợ: đó là chợ nổi Trà Ôn.

Chợ nổi Trà Ôn thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Chợ nổi là một trong những nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng ở một số tỉnh của khu vực Tây Nam bộ như: Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang, Cà Mau... nhưng trong trí nhớ nhiều người, chợ nổi Trà Ôn là một trong những khu chợ tồn tại lâu đời và gắn với nhiều nét sinh hoạt văn hóa của người dân trong khu vực.

Đây là một chợ nổi ở hạ lưu sông Hậu, hiện nay chợ cách vàm Trà Ôn 250 m, chiều dài trên 300 m, ngang chừng 150 m toạ lạc ấp An Thạnh, xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn - Cũng là chợ nổi cuối cùng trên sông Hậu trước khi đổ ra biển.

Ghe tàu thường xuyên nhóm chợ nổi khoảng 200 chiếc, còn số vãng lai cũng xấp xỉ chừng ấy, lúc mùa vụ cây trái, rau củ đông ken hoặc dịp Tết Nguyên Đán mật độ tàu ghe mua bán nhiều hơn, có khi lên đến 500 - 600 chiếc. Người mua bán đa số là dân tại Trà Ôn, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh....

Chợ nổi Trà Ôn cũng như bao chợ nổi khác ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người bán lẫn người mua đều phải ngồi ghe, thuyền chồng chành sóng vỗ, âm thanh ở chợ nổi rất sôi động và khó tả. Lẫn trong đám ghe lớn đầy ắp hàng hoá là hàng trăm ghe nhỏ, xuồng con, … tiếng gọi nhau í ới của những người mua kẻ bán làm rộn cả khúc sông. Đây là nét sinh hoạt độc đáo trên vùng sông nước, kiếp thương hồ ngược xuôi trên sông nước, tuy cực mà vui và quá đổi thân quen. Hình ảnh này đã đi sâu vào tiềm thức của người dân và trở thành một nét văn hoá trên sông - văn hoá chợ nổi.

Cách rao hàng cũng khá đặc biệt, chủ ghe muốn bán mặt hàng gì thì treo món hàng đó trên ngọn sào dài cắm ở mũi ghe, từ xa dễ dàng trông thấy và là cái độc đáo của chợ nổi - một sáng tạo tiếp thị chỉ có ở vùng sông nước mà người ta gọi là “bẹo hàng”. Chỉ cần nhìn cây bẹo để đánh giá số ghe xuồng tham gia nhóm chợ có đông hay không, hàng hoá buổi chợ có dồi dào hay không. Chợ nổi cũng gần như không thiếu món gì từ nông phẩm đến hàng tiêu dùng, kể cả các món ẩm thực và các dịch vụ khác. Chợ nổi Trà Ôn còn mang tính chất của chợ đầu mối, sản vật ở đây chủ yếu là dừa, chuối, ổi, dứa, cam sành, cốc, bưởi, mít...

Hàng ngày, các loại nông sản tươi nguyên được nhà vườn phân phối cho ghe buôn theo dạng bán sỉ. Chợ nổi Trà Ôn hoạt động cả ngày và đông nhất là vào buổi sáng. Đây cũng là chỗ trai gái tụ tập hát hò đối đáp để quên đi những nhọc nhằn của cuộc mưu sinh vất vả. Cứ thế, chợ nổi Trà Ôn tồn tại và phục vụ người dân cho tới ngày nay.

Mặc cho con nước bồng bềnh, sinh hoạt chợ búa vẫn xôn xao, tấp nập. Sau nhiều ngày thu mua, các ghe rời chợ với những khoang chở đầy hàng nông sản và nhanh chóng bắt đầu chu kỳ mới trên khu chợ nổi. Cây trái bốn mùa, ghe đi, ghe tới, cứ thế chợ nổi vẫn hoạt động liên tục, tô điểm thêm nét hấp dẫn cho thị trấn Trà Ôn thơ mộng.

- ảnh internet
Trà Ôn - một trong những vùng đất cây lành, trái ngọt của vùng ĐBSCL thơ mộng. Trên bờ là những khu vườn, những dãy cù lao cây xanh trái ngọt, dưới sông tàu ghe chờ đón để mang những sản vật của vùng đất phù sa đến với mọi miền đất nước.

Tuyến giao thông thuỷ qua địa bàn Trà Ôn là đường huyết mạch nối liền giữa Thành phố HCM xuống tận Cà Mau, kênh xáng Lục Sĩ Thành cắt ngang Cù Lao Mây đi tắt qua bờ Tây sông Hậu đến Cái Côn, Ngã Bảy, Phụng Hiệp… đã rút ngắn khoảng cách so với trước. Tại vàm Trà Ôn, ngã tư sông Hậu giáp với Sông Măng Thít và kênh xáng Lục Sĩ Thành, những thuyền thương hồ neo đậu chờ con nước lớn, chờ mối hàng, trao đổi mua bán dần dà trở thành nơi họp chợ: đó là chợ nổi Trà Ôn.

Chợ nổi Trà Ôn thuộc huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Chợ nổi là một trong những nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng ở một số tỉnh của khu vực Tây Nam bộ như: Vĩnh Long, Cần Thơ, Tiền Giang, Cà Mau... nhưng trong trí nhớ nhiều người, chợ nổi Trà Ôn là một trong những khu chợ tồn tại lâu đời và gắn với nhiều nét sinh hoạt văn hóa của người dân trong khu vực.

Đây là một chợ nổi ở hạ lưu sông Hậu, hiện nay chợ cách vàm Trà Ôn 250 m, chiều dài trên 300 m, ngang chừng 150 m toạ lạc ấp An Thạnh, xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn - Cũng là chợ nổi cuối cùng trên sông Hậu trước khi đổ ra biển.

Ghe tàu thường xuyên nhóm chợ nổi khoảng 200 chiếc, còn số vãng lai cũng xấp xỉ chừng ấy, lúc mùa vụ cây trái, rau củ đông ken hoặc dịp Tết Nguyên Đán mật độ tàu ghe mua bán nhiều hơn, có khi lên đến 500 - 600 chiếc. Người mua bán đa số là dân tại Trà Ôn, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh....

Chợ nổi Trà Ôn cũng như bao chợ nổi khác ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, người bán lẫn người mua đều phải ngồi ghe, thuyền chồng chành sóng vỗ, âm thanh ở chợ nổi rất sôi động và khó tả. Lẫn trong đám ghe lớn đầy ắp hàng hoá là hàng trăm ghe nhỏ, xuồng con, … tiếng gọi nhau í ới của những người mua kẻ bán làm rộn cả khúc sông. Đây là nét sinh hoạt độc đáo trên vùng sông nước, kiếp thương hồ ngược xuôi trên sông nước, tuy cực mà vui và quá đổi thân quen. Hình ảnh này đã đi sâu vào tiềm thức của người dân và trở thành một nét văn hoá trên sông - văn hoá chợ nổi.

Cách rao hàng cũng khá đặc biệt, chủ ghe muốn bán mặt hàng gì thì treo món hàng đó trên ngọn sào dài cắm ở mũi ghe, từ xa dễ dàng trông thấy và là cái độc đáo của chợ nổi - một sáng tạo tiếp thị chỉ có ở vùng sông nước mà người ta gọi là “bẹo hàng”. Chỉ cần nhìn cây bẹo để đánh giá số ghe xuồng tham gia nhóm chợ có đông hay không, hàng hoá buổi chợ có dồi dào hay không. Chợ nổi cũng gần như không thiếu món gì từ nông phẩm đến hàng tiêu dùng, kể cả các món ẩm thực và các dịch vụ khác. Chợ nổi Trà Ôn còn mang tính chất của chợ đầu mối, sản vật ở đây chủ yếu là dừa, chuối, ổi, dứa, cam sành, cốc, bưởi, mít...

Hàng ngày, các loại nông sản tươi nguyên được nhà vườn phân phối cho ghe buôn theo dạng bán sỉ. Chợ nổi Trà Ôn hoạt động cả ngày và đông nhất là vào buổi sáng. Đây cũng là chỗ trai gái tụ tập hát hò đối đáp để quên đi những nhọc nhằn của cuộc mưu sinh vất vả. Cứ thế, chợ nổi Trà Ôn tồn tại và phục vụ người dân cho tới ngày nay.

Mặc cho con nước bồng bềnh, sinh hoạt chợ búa vẫn xôn xao, tấp nập. Sau nhiều ngày thu mua, các ghe rời chợ với những khoang chở đầy hàng nông sản và nhanh chóng bắt đầu chu kỳ mới trên khu chợ nổi. Cây trái bốn mùa, ghe đi, ghe tới, cứ thế chợ nổi vẫn hoạt động liên tục, tô điểm thêm nét hấp dẫn cho thị trấn Trà Ôn thơ mộng.

- ảnh internet

Về Vĩnh Châu, thăm Thiên Hậu cổ miếu

(DLST) - Thiên Hậu cổ miếu tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 1500m², nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Thị xã Vĩnh Châu, cách trung tâm chợ khoảng 400m về hướng Đông – Nam, trên đường đi về xã Vĩnh Hải. Từ thành phố Sóc Trăng du khách có thể đi theo hướng tỉnh lộ 11 qua cầu Mỹ Thanh và đi thêm khoảng 18 km nữa là đến di tích.

Trước đây, Miếu được dựng với quy mô nhỏ bằng gỗ, tre, lá. Cho đến 1907 miếu được xây dựng lại khang trang bằng gạch, ngói và tồn tại cho đến ngày nay. Theo truyền khẩu, xưa kia nơi đặt miếu rất hoang vu, thanh vắng, nhà cửa dân cư thưa thớt.

Đến khi một số di dân người Hoa đến đây lập nghiệp, mang theo hình tượng nữ thần của những ngư dân và những người đi biển trong dòng họ. Để củng cố niềm tin, họ đã lập một ngôi miếu nhỏ thơ Bà với mong muốn bà phù trợ khi ra khơi đánh bắt hoặc giữ bình yên cho xóm làng, mùa màng thuận lợi.

< Chánh điện bên trong cổ miếu.

Bước chân qua cổng tường rào khang trang ta bắt gặp ngay một cặp Lân đá cao khoảng 1m ngồi trên bệ xi măng nhìn thẳng ra đường, chân trước mỗi con đặt trên một quả cầu trong tư thế đang ngồi canh giữ miếu.

Trên nóc miếu là hình tượng hai con rồng được dát bằng mảnh gốm sứ đang uốn lượn tranh một quả bầu tiên. Phía trước, hai bên bức vách của ngôi cổ miếu là hai phù điêu Thanh Long và Bạch Hổ được đắp nổi làm tăng thêm vẻ lộng lẫy ngay từ bên ngoài. Miếu được xây phân bố theo hình chữ tam, ba gian song song mái lợp ngói âm dương. Muốn vào trong điện ta phải qua một mái hiên trước có đôi cột đắp rồng uốn quanh thân, trên thanh xà dọc nối qua đầu cột các thợ người Hoa gắn hình tượng những động vật thủy sản cá tôm bằng gỗ thật khéo léo và sinh động.

< Cúng cuối năm ở chùa Bà Thiên Hậu (ngày 14/11 âm lịch).

Cửa điện gồm 3 ô theo dạng cổng tam quan, cửa chính giữa rộng gồm 2 cánh gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật Uất Trì Cung và Kính Đức. Hai cửa bên mỗi khung một cánh cũng là gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật điển tích mỗi bên. Bước vào bên trong điện, từ gian trước qua gian giữa cách một khoảng trống gọi là giếng trời có tác dụng lấy ánh sáng và làm thoáng mát không gian bên trong điện thờ. Gian đầu chỉ dựng hai bảng gỗ lớn ghi danh sách những người quyên góp trùng tu miếu, trên hai bức đầu hồi ta bắt gặp bức tranh tạc hình đắp nổi cảnh “Bát tiên quá hải” và đối diện là bức tranh đắp nổi hình hoa cảnh xinh tươi.

Gian giữa được sử dụng để đặt kim đỉnh lư hương. Gian trong cùng mới chính là nơi đặt ba khám thờ, ở giữa thờ Bà Thiên Hậu đang ngồi trên ngai có hai tiên nữ ngồi hầu hai bên, trước mặt hơi thấp hơn có 5 thần hộ vệ đứng chầu. Khám thờ bên phải đặt tượng thờ Quan Công, khám bên trái thờ các anh hùng liệt sĩ.
Trên các thanh xà ngang dưới mái ngói là các bức hoành phi sơn son thếp vàng trông thật lộng lẫy với những nội dung chúc cho quốc thái dân an, phù trợ đồng bào, đồng tâm hiệp lực làm việc ích nước lợi dân.

Trên viềm mỗi khám thờ nghệ nhân lắp phần cửa vòng trang trí hình hoa dây các loại, được thếp vàng lộng lẫy. Ngăn cách ở giữa ba khám thờ là hai bộ bát bửu bằng đồng vừa trang trí, vừa tạo lối đi riêng cho khách thập phương khi vào làm lễ.

< Nhạc lễ phục vụ cho đêm lễ hội.

Lễ hội vía Bà được tổ chức hàng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch (ngày vía Bà), đây là một lễ hội lớn đối với đồng bào Hoa ở Vĩnh Châu. Trong ba ngày (22,23, 24/4 âm lịch) mọi người dâng lễ vật, khói hương để tưởng nhớ đến công ơn của Bà. Ngoài ra, trong lễ hội còn có những hoạt động khác như biểu diễn nghệ thuật hát Tiều của Đoàn Nghệ thuật Châu Quang, lễ Hội đấu đèn lồng, mặc dù giá trị vật chất không cao nhưng mua được đèn lồng là mua được: “Gia đình bình an”, “Tấn tài tấn lộc” và đó là tấm lòng “Lá lành đùm lá rách” từ Hội chùa đối với dân nghèo.

< Thiên Hậu cổ miếu nhìn từ bên ngoài.

Có thể nói, Miếu Bà Thiên Hậu hay chùa Bà Vĩnh Châu là một di tích kiến trúc độc đáo, một hình tượng tín ngưỡng đã lâu đời in sâu vào tâm trí của đồng bào người Hoa tại thị xã Vĩnh Châu. Miếu Bà là nơi họ trao gởi niềm tin vào sự phù trợ của Bà để người dân làm ăn phát đạt và gia đình luôn hòa thuận, yên ấm.

Miếu Bà Thiên Hậu vừa thể hiện được bản sắc văn hóa cội nguồn của dân tộc Hoa, vừa làm phong phú thêm đời sống tâm linh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Miếu Bà Thiên Hậu đã được UBND tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh vào ngày 03/6/2004.

Theo Nguyễn Dũng (Du lịch Sóc Trăng) + internet
(DLST) - Thiên Hậu cổ miếu tọa lạc trên một khu đất rộng khoảng 1500m², nằm trên đường Trần Hưng Đạo, Thị xã Vĩnh Châu, cách trung tâm chợ khoảng 400m về hướng Đông – Nam, trên đường đi về xã Vĩnh Hải. Từ thành phố Sóc Trăng du khách có thể đi theo hướng tỉnh lộ 11 qua cầu Mỹ Thanh và đi thêm khoảng 18 km nữa là đến di tích.

Trước đây, Miếu được dựng với quy mô nhỏ bằng gỗ, tre, lá. Cho đến 1907 miếu được xây dựng lại khang trang bằng gạch, ngói và tồn tại cho đến ngày nay. Theo truyền khẩu, xưa kia nơi đặt miếu rất hoang vu, thanh vắng, nhà cửa dân cư thưa thớt.

Đến khi một số di dân người Hoa đến đây lập nghiệp, mang theo hình tượng nữ thần của những ngư dân và những người đi biển trong dòng họ. Để củng cố niềm tin, họ đã lập một ngôi miếu nhỏ thơ Bà với mong muốn bà phù trợ khi ra khơi đánh bắt hoặc giữ bình yên cho xóm làng, mùa màng thuận lợi.

< Chánh điện bên trong cổ miếu.

Bước chân qua cổng tường rào khang trang ta bắt gặp ngay một cặp Lân đá cao khoảng 1m ngồi trên bệ xi măng nhìn thẳng ra đường, chân trước mỗi con đặt trên một quả cầu trong tư thế đang ngồi canh giữ miếu.

Trên nóc miếu là hình tượng hai con rồng được dát bằng mảnh gốm sứ đang uốn lượn tranh một quả bầu tiên. Phía trước, hai bên bức vách của ngôi cổ miếu là hai phù điêu Thanh Long và Bạch Hổ được đắp nổi làm tăng thêm vẻ lộng lẫy ngay từ bên ngoài. Miếu được xây phân bố theo hình chữ tam, ba gian song song mái lợp ngói âm dương. Muốn vào trong điện ta phải qua một mái hiên trước có đôi cột đắp rồng uốn quanh thân, trên thanh xà dọc nối qua đầu cột các thợ người Hoa gắn hình tượng những động vật thủy sản cá tôm bằng gỗ thật khéo léo và sinh động.

< Cúng cuối năm ở chùa Bà Thiên Hậu (ngày 14/11 âm lịch).

Cửa điện gồm 3 ô theo dạng cổng tam quan, cửa chính giữa rộng gồm 2 cánh gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật Uất Trì Cung và Kính Đức. Hai cửa bên mỗi khung một cánh cũng là gỗ dày trên vẽ hình hai nhân vật điển tích mỗi bên. Bước vào bên trong điện, từ gian trước qua gian giữa cách một khoảng trống gọi là giếng trời có tác dụng lấy ánh sáng và làm thoáng mát không gian bên trong điện thờ. Gian đầu chỉ dựng hai bảng gỗ lớn ghi danh sách những người quyên góp trùng tu miếu, trên hai bức đầu hồi ta bắt gặp bức tranh tạc hình đắp nổi cảnh “Bát tiên quá hải” và đối diện là bức tranh đắp nổi hình hoa cảnh xinh tươi.

Gian giữa được sử dụng để đặt kim đỉnh lư hương. Gian trong cùng mới chính là nơi đặt ba khám thờ, ở giữa thờ Bà Thiên Hậu đang ngồi trên ngai có hai tiên nữ ngồi hầu hai bên, trước mặt hơi thấp hơn có 5 thần hộ vệ đứng chầu. Khám thờ bên phải đặt tượng thờ Quan Công, khám bên trái thờ các anh hùng liệt sĩ.
Trên các thanh xà ngang dưới mái ngói là các bức hoành phi sơn son thếp vàng trông thật lộng lẫy với những nội dung chúc cho quốc thái dân an, phù trợ đồng bào, đồng tâm hiệp lực làm việc ích nước lợi dân.

Trên viềm mỗi khám thờ nghệ nhân lắp phần cửa vòng trang trí hình hoa dây các loại, được thếp vàng lộng lẫy. Ngăn cách ở giữa ba khám thờ là hai bộ bát bửu bằng đồng vừa trang trí, vừa tạo lối đi riêng cho khách thập phương khi vào làm lễ.

< Nhạc lễ phục vụ cho đêm lễ hội.

Lễ hội vía Bà được tổ chức hàng năm vào ngày 23 tháng 3 âm lịch (ngày vía Bà), đây là một lễ hội lớn đối với đồng bào Hoa ở Vĩnh Châu. Trong ba ngày (22,23, 24/4 âm lịch) mọi người dâng lễ vật, khói hương để tưởng nhớ đến công ơn của Bà. Ngoài ra, trong lễ hội còn có những hoạt động khác như biểu diễn nghệ thuật hát Tiều của Đoàn Nghệ thuật Châu Quang, lễ Hội đấu đèn lồng, mặc dù giá trị vật chất không cao nhưng mua được đèn lồng là mua được: “Gia đình bình an”, “Tấn tài tấn lộc” và đó là tấm lòng “Lá lành đùm lá rách” từ Hội chùa đối với dân nghèo.

< Thiên Hậu cổ miếu nhìn từ bên ngoài.

Có thể nói, Miếu Bà Thiên Hậu hay chùa Bà Vĩnh Châu là một di tích kiến trúc độc đáo, một hình tượng tín ngưỡng đã lâu đời in sâu vào tâm trí của đồng bào người Hoa tại thị xã Vĩnh Châu. Miếu Bà là nơi họ trao gởi niềm tin vào sự phù trợ của Bà để người dân làm ăn phát đạt và gia đình luôn hòa thuận, yên ấm.

Miếu Bà Thiên Hậu vừa thể hiện được bản sắc văn hóa cội nguồn của dân tộc Hoa, vừa làm phong phú thêm đời sống tâm linh của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Vì vậy, Miếu Bà Thiên Hậu đã được UBND tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh vào ngày 03/6/2004.

Theo Nguyễn Dũng (Du lịch Sóc Trăng) + internet

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích lịch sử, kiến trúc và tâm linh quan trọng của tỉnh và của khu vực phía Nam.

Bà Chúa Xứ là nhân vật truyền thuyết được thờ tự tại núi Sam. Miếu Bà là một di tích nổi tiếng ở Châu Đốc, hàng năm thu hút gần hai triệu lượt người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa như miền Đông, miền Trung... tạo nên mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng.

Với người dân miền Tây Nam bộ, Bà Chúa Xứ núi Sam có công đức giúp bà con sống an bình. Vì thế hàng trăm năm nay người An Giang đã lập miếu Bà Chúa Xứ, thờ tự Bà như thần. Mỗi năm vào ngày vía bà (từ tháng 4 âm lịch kéo dài cho đến đầu tháng 6), rất đông khách hành hương từ các nơi về cúng bái, cầu may, xin phúc, vay tiền làm ăn.


Miếu Bà có từ bao giờ? Đến nay chưa có sử liệu nào ghi lại một cách chính xác. Trong dân gian tương truyền rằng: Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng "cô đồng", nên người dân đã lập miếu để tôn thờ.

Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.

Lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Sau nhiều lần trùng tu, miếu Bà khang trang hơn.

Năm 1870, ông Giáo Gia đề xướng xây cất lại thành ngôi miếu ngói và sau đó còn trùng tu nhiều lần, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói, thu hút khách thập phương đến chiêm bái, tín ngưỡng.. Kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban Quý tế…

Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ khính phương Đông. và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng.Mái cong nhiều tầng lợp ngói xanh, tường ốp gạch men bóng láng nhập từ nước ngoài, các khung cửa bằng gỗ quí được chạm trổ hoa văn công phu, mỹ thuật. Chánh điện cao rộng, thoáng khí, vừa uy nghi vừa ấm cúng.

Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy đông lang, tây lang, nhà khách... Bao bọc xung quanh cũng với kiến trúc mái cong, theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995. Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại. Trường học được cải tạo thàng nhà trưng bày đồ sộ, hài hòa với miếu.

Tượng Bà là một tác phẩm nghệ thuật tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ 6. Dáng người ngồi nghĩ ngợi, khoan thai, thuộc nền văn hóa Óc Eo, mang mô típ mỹ thuật Bà-la-môn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, tương tự tượng Phật Bốn Tay ở chùa Linh Sơn (thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, An Giang).
Thực ra đây không phải là tượng người phụ nữ mà là tượng nam thần đang ngồi trầm tư, nghĩ ngợi, thường gặp trong các tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo. Nhà văn Sơn Nam cũng đã ghi: 'Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khơme, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…'.

Tượng Bà đặt giữa chánh điện, đội mão sặc sỡ, mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh. Khánh hành hương đã dâng cúng cho Bà hàng ngàn áo mão không sử dụng hết, có cái được đặt may từ nước ngoài trị giá vài cây vàng. Ngoài các bàn thờ Hội Đồng, Tiền hiền, Hậu hiền; cạnh tượng Bà Chúa Xứ, phía bên phải có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ, gọi là Bàn thờ Cô; phía bên trái có một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m, gọi là Bàn thờ Cậu.

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Trước kia có nhiều hình thức cúng bái mê tín như xin xăm, xin bùa, uống nước tắm Bà để trị bệnh... Ngày nay, những hủ tục đó không còn nữa. Đa số khách đến viếng thăm để dâng hương cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lưu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu.

Các vật lưu niệm ngày nay quá nhiều. Ban Quản trị đưa vào khu nhà lưu niệm để trưng bày. Tiền hỷ cúng hằng năm lên tới vài tỉ đồng (trong đó có vàng, đô-la). Nguồn tài chánh này ngoài việc trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần vào nhiều công trình phúc lợi xã hội địa phương như: Làm đường, xây trường học, bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học...

Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn được duy trì theo nghi thức cổ truyền. Vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch, lễ tắm Bà được tiến hành khoảng hơn 1 giờ đồng hồ nhằm lau sạch bụi bặm sau một năm dài. Lễ được chuẩn bị từ lúc 23 giờ 30 và bắt đầu lúc 0 giờ. Các vị bô lão trong lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hương, dâng rượu, dâng trà...

< Nơi trưng bày áo Bà.

Xong phần nghi thức, khoảng 4 đến 5 phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm Bà. Sau khi cởi áo mão, các vị dùng nước sạch có ngâm hoa lài tỏa mùi thơm ngào ngạt để lau cốt tượng. Xong, xịt nước hoa rồi mặc áo mão mới cho Bà. Mặc dù công việc này được thực hiện sau bức màn che nhưng có hàng ngàn người chen chúc nhau đến chứng kiến ngoài vòng rào chánh điện.

Lễ túc yết và lễ xây chầu được tiến hành trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 âm lịch, đây là cuộc lễ chính trong lễ hội vía Bà. Từ đầu hôm, hàng chục ngàn người đã tụ về miếu Bà để được tham dự cuộc hành lễ này. Trước đó, hồi 15 giờ cuộc lễ thỉnh sắc thần được tiến hành trọng thể trong tiếng trống lân rộn rã. Các bô lão và thanh niên trong lễ phục, xếp hai hàng dưới bóng cờ, lộng sặc sỡ, hộ tống long đình rước bài vị của Ông Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân từ lăng về miếu.

Đúng 0 giờ, cuộc lễ túc yết bắt đầu với sự điều khiển của chánh bái và bốn đào thày. Lễ vật dâng cúng là một con heo trắng đã cạo mổ xong và một dĩa mao huyết tượng trưng cho con heo sống cùng với các mâm xôi, ngũ quả... Trong tiếng nhạc lễ và chiêng trống trỗi lên từng hồi, ông chánh bái và các đào thày dâng hương, dâng rượu, đọc văn tế, dâng trà. Lễ xây chầu được nối tiếp khi ông chánh bái cầm nhành dương vãi nước và đọc: "Nhất xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn trường, tứ xái quỹ diệt hình: (có nghĩa là thứ nhất vãi lên trời xanh mong điều cao đẹp, thứ hai vãi xuống đất cho được màu mỡ, trúng mùa, thứ ba vãi loài người được trường thọ, thứ tư vãi diệt loài quỷ dữ). Xong, chánh bái ca công nổi trống ba hồi, đoàn hát bộ trên sân khấu trong võ ca trước chánh điện đã chuẩn bị sẵn, nổi trống theo và kéo màn trình diễn.

Đến 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 âm lịch, lễ chánh tế được tiến hành như lễ túc yết nhưng đơn giản hơn và 15 giờ cùng ngày đoàn thỉnh sắc làm lễ hồi sắc, đưa bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân trở về lăng, kết thúc một mùa vía.

Truyền Thuyết Miếu Bà Chúa Xứ.

1. Có truyền thuyết kể rằng, một hôm dân địa phương vào núi đốn củi, tình cờ họ phát hiện tượng bà nằm ở giữa rừng, bèn về báo cho dân làng, sau đó dân làng đã cùng nhau đưa tượng về, lập miếu thờ.

< Nơi Bà Chúa Xứ Núi Sam ngự khi xưa.

2. Một truyền thuyết khác kể rằng có một vị thần linh tự xưng là Bà Chúa Xứ Châu Đốc đã báo mộng cho dân làng; Hãy chọn 9 cô gái đồng trinh lên đỉnh núi Sam, đưa tượng ta về lập miếu thờ, ta sẽ phù hộ cho dân sống an lành và làm ăn phát đạt. Sau đó, 9 cô gái được chọn cử lên đỉnh núi tìm tượng đá và quả nhiên, họ đã gặp một tượng đá trong tư thế ngồi, mắt nhìn thẳng về phía trước, bèn khiêng về, kỳ rửa sạch sẽ, và lập miếu thờ. Từ đó, hằng năm dân làng lấy ngày tượng bà được "an vị" tại miếu làm ngày lễ Vía Bà.

3. Một truyền thuyết khác nữa gắn với chiến công của Thoại Ngọc hầu và việc trùng tu ngôi miếu làm ngày lễ Vía Bà. Dưới triều Minh Mạng, khi Thoại Ngọc hầu giữ trọng trách trấn giữ biên giới tây nam, giặc ngoại xâm thường sang quấy nhiễu. Mỗi lần ông xuất quân, bà vợ thường đến khấn vái, mong Bà phù hộ Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân.

Về sau, để tạ ơn những điều ứng nghiệm, vợ Thoại Ngọc Hầu đã cho xây cất lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Lễ khánh thành được tổ chức trong 3 ngày 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch. Từ đó về sau thành lệ, dân chúng lấy những ngày trên làm lễ Vía bà. Nếu chi tiết này có thật, thì đây cũng là một thông tin cho biết thêm rằng miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ thời Minh Mạng.

4. Lại có truyền thuyết gắn với lễ Vía bà với tập quán sản xuất nông nghiệp ở địa phương, cho rằng tháng tư là thời vụ bà con xuống giống làm mùa. Họ làm lễ cầu Bà, hy vọng mùa sẽ được bội thu. Nhân dịp này, dân chúng tổ chức những cuộc vui chơi, rồi lâu dần thành lệ. Từ một hội làng Vĩnh Tế mang đặc điểm lễ cầu mùa trong nông nghiệp đã dần biến thành lễ Vía bà, thu hút đông đảo khách thập phương từ các nơi ngày càng đông.

Lễ hội

Hàng năm, lễ hội “Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” diễn ra từ ngày 23 đến 27-04 âm lịch. Hàng vạn người đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ... Phần lễ có những nghi lễ chính như sau:

- Lễ “Tắm Bà” (tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc): Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24-04 âm lịch. Mở đầu lễ, 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản lý miếu niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng.

Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần. Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ. Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…Nước tắm cho Bà còn lại sẽ đem hoà trong 2 thùng nước lớn để phân phát cho du khách trẩy hội.

- Lễ Thỉnh sắc: cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25, một đoàn người gồm các bô lão trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc (thật ra, đây là lễ rước bài vị, vì sắc đã không còn). Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là long đình. Đến điện thờ, ông chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh bài vị đưa lên kiệu trở về miếu Bà. Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chánh điện. Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước.

- Lễ Túc yết: được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu. Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ. Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối. Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu. Nghi thức cúng tế kết thúc bằng động tác của ông chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc. Tiếp theo nghi thức cúng tế là phần xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hoà, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh. Sau đó, chiêng trống rộ lên, chương trình hát bội bắt đầu.

- Lễ Chánh tế: được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.

- Lễ Hồi sắc: cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng. Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.
Miếu Bà chúa Xứ là một trong những danh thắng của núi Lam được nhà nước xếp hạng. Nơi đây đã mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng, thời đại chống giặc ngoại xâm. Và ngay nay miếu Bà Chúa Xứ vẫn thật sự là điểm đến của du khách bốn phương, là nơi mà con người cầu mong về những điều thiêng liêng, tốt đẹp nhất.

tổng hợp
Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, trước thuộc xã Vĩnh Tế, nay thuộc phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích lịch sử, kiến trúc và tâm linh quan trọng của tỉnh và của khu vực phía Nam.

Bà Chúa Xứ là nhân vật truyền thuyết được thờ tự tại núi Sam. Miếu Bà là một di tích nổi tiếng ở Châu Đốc, hàng năm thu hút gần hai triệu lượt người đến cúng bái, tham quan. Khách hành hương, du lịch không những đến từ các tỉnh lân cận mà còn từ các tỉnh xa như miền Đông, miền Trung... tạo nên mùa lễ hội sôi nổi, đông đảo ở núi Sam suốt nhiều tháng.

Với người dân miền Tây Nam bộ, Bà Chúa Xứ núi Sam có công đức giúp bà con sống an bình. Vì thế hàng trăm năm nay người An Giang đã lập miếu Bà Chúa Xứ, thờ tự Bà như thần. Mỗi năm vào ngày vía bà (từ tháng 4 âm lịch kéo dài cho đến đầu tháng 6), rất đông khách hành hương từ các nơi về cúng bái, cầu may, xin phúc, vay tiền làm ăn.


Miếu Bà có từ bao giờ? Đến nay chưa có sử liệu nào ghi lại một cách chính xác. Trong dân gian tương truyền rằng: Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng "cô đồng", nên người dân đã lập miếu để tôn thờ.

Có ý kiến cho rằng Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và kênh Vĩnh Tế đã hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.

Lúc đầu, miếu Bà được xây dựng đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng, lưng quay về vách núi, chánh điện nhìn ra cánh đồng bát ngát. Sau nhiều lần trùng tu, miếu Bà khang trang hơn.

Năm 1870, ông Giáo Gia đề xướng xây cất lại thành ngôi miếu ngói và sau đó còn trùng tu nhiều lần, miếu được xây lại bằng đá miểng và lợp ngói, thu hút khách thập phương đến chiêm bái, tín ngưỡng.. Kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban Quý tế…

Đến năm 1972, miếu được xây dựng mới, đồ sộ và lộng lẫy theo lối kiến trúc cổ khính phương Đông. và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay, và người thiết kế là kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng.Mái cong nhiều tầng lợp ngói xanh, tường ốp gạch men bóng láng nhập từ nước ngoài, các khung cửa bằng gỗ quí được chạm trổ hoa văn công phu, mỹ thuật. Chánh điện cao rộng, thoáng khí, vừa uy nghi vừa ấm cúng.

Công trình là một quần thể hoành tráng trên mặt bằng rộng với dãy đông lang, tây lang, nhà khách... Bao bọc xung quanh cũng với kiến trúc mái cong, theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, nhưng xây dựng dở dang. Mãi đến năm 1995. Ban Quản trị lăng miếu núi Sam mới tiếp tục xây dựng phần còn lại. Trường học được cải tạo thàng nhà trưng bày đồ sộ, hài hòa với miếu.

Tượng Bà là một tác phẩm nghệ thuật tạc bằng đá son, có từ thế kỷ thứ 6. Dáng người ngồi nghĩ ngợi, khoan thai, thuộc nền văn hóa Óc Eo, mang mô típ mỹ thuật Bà-la-môn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, tương tự tượng Phật Bốn Tay ở chùa Linh Sơn (thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, An Giang).
Thực ra đây không phải là tượng người phụ nữ mà là tượng nam thần đang ngồi trầm tư, nghĩ ngợi, thường gặp trong các tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo. Nhà văn Sơn Nam cũng đã ghi: 'Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khơme, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Người Việt đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…'.

Tượng Bà đặt giữa chánh điện, đội mão sặc sỡ, mặc áo bào thêu rồng phụng, kim tuyến lấp lánh. Khánh hành hương đã dâng cúng cho Bà hàng ngàn áo mão không sử dụng hết, có cái được đặt may từ nước ngoài trị giá vài cây vàng. Ngoài các bàn thờ Hội Đồng, Tiền hiền, Hậu hiền; cạnh tượng Bà Chúa Xứ, phía bên phải có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ, gọi là Bàn thờ Cô; phía bên trái có một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2m, gọi là Bàn thờ Cậu.

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Trước kia có nhiều hình thức cúng bái mê tín như xin xăm, xin bùa, uống nước tắm Bà để trị bệnh... Ngày nay, những hủ tục đó không còn nữa. Đa số khách đến viếng thăm để dâng hương cầu tài, cầu lộc, thể hiện lòng tạ ơn Bà bằng nhiều hình thức: Cúng heo quay, cúng tiền, lễ vật lưu niệm hoặc các tiện nghi phục vụ cho miếu.

Các vật lưu niệm ngày nay quá nhiều. Ban Quản trị đưa vào khu nhà lưu niệm để trưng bày. Tiền hỷ cúng hằng năm lên tới vài tỉ đồng (trong đó có vàng, đô-la). Nguồn tài chánh này ngoài việc trùng tu, xây dựng lăng, miếu còn góp phần vào nhiều công trình phúc lợi xã hội địa phương như: Làm đường, xây trường học, bệnh xá, đóng góp quỹ từ thiện, khuyến học...

Các lễ cúng ở miếu Bà vẫn được duy trì theo nghi thức cổ truyền. Vào lúc nửa đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch, lễ tắm Bà được tiến hành khoảng hơn 1 giờ đồng hồ nhằm lau sạch bụi bặm sau một năm dài. Lễ được chuẩn bị từ lúc 23 giờ 30 và bắt đầu lúc 0 giờ. Các vị bô lão trong lễ phục áo dài khăn đóng lên đèn, niệm hương, dâng rượu, dâng trà...

< Nơi trưng bày áo Bà.

Xong phần nghi thức, khoảng 4 đến 5 phụ nữ đứng tuổi, có uy tín trong làng tiến hành việc tắm Bà. Sau khi cởi áo mão, các vị dùng nước sạch có ngâm hoa lài tỏa mùi thơm ngào ngạt để lau cốt tượng. Xong, xịt nước hoa rồi mặc áo mão mới cho Bà. Mặc dù công việc này được thực hiện sau bức màn che nhưng có hàng ngàn người chen chúc nhau đến chứng kiến ngoài vòng rào chánh điện.

Lễ túc yết và lễ xây chầu được tiến hành trong đêm 25 rạng 26 tháng 4 âm lịch, đây là cuộc lễ chính trong lễ hội vía Bà. Từ đầu hôm, hàng chục ngàn người đã tụ về miếu Bà để được tham dự cuộc hành lễ này. Trước đó, hồi 15 giờ cuộc lễ thỉnh sắc thần được tiến hành trọng thể trong tiếng trống lân rộn rã. Các bô lão và thanh niên trong lễ phục, xếp hai hàng dưới bóng cờ, lộng sặc sỡ, hộ tống long đình rước bài vị của Ông Thoại Ngọc Hầu và hai vị phu nhân từ lăng về miếu.

Đúng 0 giờ, cuộc lễ túc yết bắt đầu với sự điều khiển của chánh bái và bốn đào thày. Lễ vật dâng cúng là một con heo trắng đã cạo mổ xong và một dĩa mao huyết tượng trưng cho con heo sống cùng với các mâm xôi, ngũ quả... Trong tiếng nhạc lễ và chiêng trống trỗi lên từng hồi, ông chánh bái và các đào thày dâng hương, dâng rượu, đọc văn tế, dâng trà. Lễ xây chầu được nối tiếp khi ông chánh bái cầm nhành dương vãi nước và đọc: "Nhất xái thiên thanh, nhị xái địa ninh, tam xái nhơn trường, tứ xái quỹ diệt hình: (có nghĩa là thứ nhất vãi lên trời xanh mong điều cao đẹp, thứ hai vãi xuống đất cho được màu mỡ, trúng mùa, thứ ba vãi loài người được trường thọ, thứ tư vãi diệt loài quỷ dữ). Xong, chánh bái ca công nổi trống ba hồi, đoàn hát bộ trên sân khấu trong võ ca trước chánh điện đã chuẩn bị sẵn, nổi trống theo và kéo màn trình diễn.

Đến 4 giờ sáng ngày 27 tháng 4 âm lịch, lễ chánh tế được tiến hành như lễ túc yết nhưng đơn giản hơn và 15 giờ cùng ngày đoàn thỉnh sắc làm lễ hồi sắc, đưa bài vị ông Thoại Ngọc Hầu và hai phu nhân trở về lăng, kết thúc một mùa vía.

Truyền Thuyết Miếu Bà Chúa Xứ.

1. Có truyền thuyết kể rằng, một hôm dân địa phương vào núi đốn củi, tình cờ họ phát hiện tượng bà nằm ở giữa rừng, bèn về báo cho dân làng, sau đó dân làng đã cùng nhau đưa tượng về, lập miếu thờ.

< Nơi Bà Chúa Xứ Núi Sam ngự khi xưa.

2. Một truyền thuyết khác kể rằng có một vị thần linh tự xưng là Bà Chúa Xứ Châu Đốc đã báo mộng cho dân làng; Hãy chọn 9 cô gái đồng trinh lên đỉnh núi Sam, đưa tượng ta về lập miếu thờ, ta sẽ phù hộ cho dân sống an lành và làm ăn phát đạt. Sau đó, 9 cô gái được chọn cử lên đỉnh núi tìm tượng đá và quả nhiên, họ đã gặp một tượng đá trong tư thế ngồi, mắt nhìn thẳng về phía trước, bèn khiêng về, kỳ rửa sạch sẽ, và lập miếu thờ. Từ đó, hằng năm dân làng lấy ngày tượng bà được "an vị" tại miếu làm ngày lễ Vía Bà.

3. Một truyền thuyết khác nữa gắn với chiến công của Thoại Ngọc hầu và việc trùng tu ngôi miếu làm ngày lễ Vía Bà. Dưới triều Minh Mạng, khi Thoại Ngọc hầu giữ trọng trách trấn giữ biên giới tây nam, giặc ngoại xâm thường sang quấy nhiễu. Mỗi lần ông xuất quân, bà vợ thường đến khấn vái, mong Bà phù hộ Thoại Ngọc Hầu đánh thắng giặc, bảo vệ cuộc sống yên lành cho dân.

Về sau, để tạ ơn những điều ứng nghiệm, vợ Thoại Ngọc Hầu đã cho xây cất lại ngôi miếu to và khang trang hơn. Lễ khánh thành được tổ chức trong 3 ngày 24, 25, 26 tháng 4 âm lịch. Từ đó về sau thành lệ, dân chúng lấy những ngày trên làm lễ Vía bà. Nếu chi tiết này có thật, thì đây cũng là một thông tin cho biết thêm rằng miếu Bà Chúa Xứ được xây dựng từ thời Minh Mạng.

4. Lại có truyền thuyết gắn với lễ Vía bà với tập quán sản xuất nông nghiệp ở địa phương, cho rằng tháng tư là thời vụ bà con xuống giống làm mùa. Họ làm lễ cầu Bà, hy vọng mùa sẽ được bội thu. Nhân dịp này, dân chúng tổ chức những cuộc vui chơi, rồi lâu dần thành lệ. Từ một hội làng Vĩnh Tế mang đặc điểm lễ cầu mùa trong nông nghiệp đã dần biến thành lễ Vía bà, thu hút đông đảo khách thập phương từ các nơi ngày càng đông.

Lễ hội

Hàng năm, lễ hội “Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam” diễn ra từ ngày 23 đến 27-04 âm lịch. Hàng vạn người đổ về dự lễ và tham gia các trò vui như: hát bội, múa võ, ca nhạc ngũ âm, múa lân, đánh cờ... Phần lễ có những nghi lễ chính như sau:

- Lễ “Tắm Bà” (tương tự như lễ mộc dục ở miền Bắc): Được cử hành vào lúc 0 giờ ngày 24-04 âm lịch. Mở đầu lễ, 2 ngọn nến to được đốt sáng lên trong chánh điện. Ông lễ chánh bái nghi cùng với 2 vị bô lão, ban quản lý miếu niệm hương, dâng rượu và trà. Bức màn vải có viền ren lộng lẫy kéo ngang bệ thờ, che khuất khu vực đặt tượng, 9 cô gái trẻ được phân công trước bắt đầu vén màn tắm cho tượng Bà. Đầu tiên là cởi mũ, áo, khăn đai từ lớp ngoài vào trong để lộ toàn thân pho tượng.

Những cô gái được phân công việc tắm Bà lần lượt nhúng từng chiếc khăn mới vào chậu nước thơm, vắt ráo rồi lau tượng nhiều lần. Sau đó, họ dùng nước hoa xịt khắp bức tượng rồi chọn bộ đồ mới đẹp nhất khoác lên bức tượng, thắt chặt đai, chít khăn, đội mão, gắn lại những ngọn đèn màu trang trí như cũ. Lễ tắm Bà thường kéo dài khoảng một giờ, sau đó bức màn ngăn được kéo lên để cho khách tự do chiêm bái, dâng hương, hoặc xin lộc Bà. Phần Lễ Tắm Bà kết thúc…Nước tắm cho Bà còn lại sẽ đem hoà trong 2 thùng nước lớn để phân phát cho du khách trẩy hội.

- Lễ Thỉnh sắc: cử hành vào khoảng 16h chiều ngày 25, một đoàn người gồm các bô lão trong làng quần áo chỉnh tề, tiến từ miếu Bà sang lăng Thoại Ngọc Hầu để thỉnh sắc (thật ra, đây là lễ rước bài vị, vì sắc đã không còn). Dẫn đầu có đội múa lân, các học trò lễ tay cầm cờ phướn đi hầu phía trước và sau chiếc kiệu sơn son thiếp vàng gọi là long đình. Đến điện thờ, ông chánh bái làm lễ niệm hương, rồi thỉnh bài vị đưa lên kiệu trở về miếu Bà. Ba chiếc bài vị mang tên Thoại Ngọc Hầu và tên bà vợ chánh Châu Thị Tế, bà vợ thứ Trương Thị Miệt được đặt trên bàn thờ ở chánh điện. Bài vị thứ tư mang tên Hội đồng, ghi công lao các quan quân đã theo Thoại Ngọc Hầu xưa kia, được đặt riêng ở bàn thờ phía trước.

- Lễ Túc yết: được tổ chức lúc 0 giờ đêm 25 rạng 26-04 âm lịch, gồm có hai phần: nghi thức cúng tế và phần xây chầu. Lễ vật dâng cúng gồm có: một con heo trắng, một đĩa huyết heo có kèm theo nhúm lông nhỏ. Một mâm trái cây, trầu cau, gạo, muối. Sau ba hồi chiêng, trống, nhạc lễ nổi lên, lễ dâng hương, dâng trà bắt đầu. Nghi thức cúng tế kết thúc bằng động tác của ông chánh tế đốt bản văn tế cùng giấy vàng bạc. Tiếp theo nghi thức cúng tế là phần xây chầu được tiến hành ở nhà võ ca. Sau phần cầu nguyện của ông Chánh bái, xin cho mưa thuận gió hoà, đất đai phì nhiêu, mùa màng bội thu, dân chúng khỏe mạnh, yên vui, các loài quỷ dữ bị tiêu diệt, lễ Xây chầu bắt đầu bằng ba hồi trống lệnh. Sau đó, chiêng trống rộ lên, chương trình hát bội bắt đầu.

- Lễ Chánh tế: được tổ chức vào tờ mờ sáng ngày 27, gần giống như nghi thức cúng Túc yết.

- Lễ Hồi sắc: cử hành vào khoảng 15h ngày 27-04, đoàn hành lễ sẽ rước bài vị Thoại Ngọc Hầu và nhị vị phu nhân từ miếu trở về Sơn Lăng. Kết thúc lễ hội Vía Bà Chúa Xứ núi Sam.
Miếu Bà chúa Xứ là một trong những danh thắng của núi Lam được nhà nước xếp hạng. Nơi đây đã mang dấu ấn của cả một thời đại hào hùng, thời đại chống giặc ngoại xâm. Và ngay nay miếu Bà Chúa Xứ vẫn thật sự là điểm đến của du khách bốn phương, là nơi mà con người cầu mong về những điều thiêng liêng, tốt đẹp nhất.

tổng hợp

Tủa Chùa và chợ phiên

Cứ vào ngày chủ nhật hàng tuần, dường như đã đến hẹn, bà con các dân tộc ở khắp các bản trên mường dưới trong huyện Tủa Chùa lại xúng xinh trong những bộ váy áo còn hương mùi chàm, còn sáng ánh tơ xuống chợ phiên huyện.

Tủa Chùa là một huyện miền núi thuộc tỉnh Điện Biên. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía tây giáp huyện Mường Chà, phía nam giáp huyện Tuần Giáo và phía đông là tỉnh Sơn La. Tủa Chùa có địa hình núi thấp với các đỉnh Na Tung cao 1.585m ở phía đông nam, Phình Ho cao 1.585 m ở phía tây bắc và cao nguyên Xín Chải dạng cao nguyên đá vôi. Có sông Đà chảy qua ranh giới phía đông và phía bắc của huyện, sông Nậm Mức chảy qua ranh giới phía tây của huyện để nối vào sông Đà tại phía tây bắc huyện này trong địa giới xã Lao Xả Phình.

Đây là nơi cư trú của 7 dân tộc gồm: Mông, Thái, Kinh, Khơ Mú, Dao, Hoa, Phù Lá, trong đó dân tộc Mông chiếm tới 73%, vì lẽ đó mà Tủa Chùa được coi là vùng đất phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào dân tộc Mông. Đặc trưng hấp dẫn du khách ưa tìm tòi khám phá ở Tủa Chùa là các chợ phiên. Ngoài chợ phiên chính của huyện còn có chợ phiên ở 2 xã Xá Nhè và Tả Sìn Thàng. Nơi đây nổi tiếng với những sản phẩm ẩm thực được nhiều người biết đến như “rượu Mông pê, dê núi đá, cá sông Đà, gà đi bộ, chè cổ thụ”.

Khác đôi chút với những phiên chợ khác, chợ phiên Tủa Chùa được họp ngày Chủ nhật, ngay tại trung tâm huyện nên sản phẩm bầy bán ở đây khá phong phú và đa dạng. Tuy vậy chợ vẫn giữ được nét đặc sắc của những phiên chợ vùng cao, sản phẩm bầy bán chủ yếu vẫn là những nông thổ sản do đồng bào các dân tộc làm ra.

Ngay từ sớm, khắp các nẻo đường dẫn đến chợ đã sôi động, náo nhiệt. Không còn những tiếng vó ngựa, lục lạc như xưa, mà thay vào đó là tiếng 'rừm, rừm' của những động cơ xe máy hòa chung tiếng nói cười của các bà, các chị, nam thanh nữ tú xuống chợ.

Ở Tủa Chùa, người địa phương trồng ngô, lúa, chè, bông, trẩu, đồng cỏ và một số loài cây ăn quả. Nuôi bò, trâu, ong mật, dê và khai thác dược liệu, đặc sản rừng. Vậy nên phiên chợ bán nhiều mặt hàng liên quan như những vuông vải, gánh rau, gùi ngô, can rượu, con gà, chú lợn hay những vật dụng như con dao, lưỡi cày...

Cách thị trấn Tủa Chùa chừng 15km, cứ 6 ngày một lần diễn ra chợ phiên Xá Nhè. Đây là phiên chợ hội tụ đủ sắc màu của đồng bào dân tộc Mông, Dao, Thái Phù Lá từ các xã: Xá Nhè, Mường Đun, Tủa Thàng và Mường Báng. Tuy mới thành lập lại vài năm gần đây, nhưng chợ phiên Xá Nhè đã trở thành nơi giao lưu và tập trung mua bán, trao đổi hàng hóa, sản vật giữa người dân trong vùng.

Còn chợ phiên Tả Sìn Thàng có từ thời Pháp thuộc. Ở đây người dân mua bán, trao đổi tất cả những mặt hàng phục vụ sinh hoạt thường ngày. Từ vật phẩm “cây nhà lá vườn” như con lợn cắp nách, con gà, gạo nương đến kim, chỉ thêu thùa, đồ trang điểm và những sản vật của địa phương, như: rượu Mông pê, thịt thú rừng, măng khô, mật ong, chè Shan tuyết hay những vuông vải thổ cẩm rực rỡ đủ sắc màu…

Khi đã thấm mệt, du khách sẽ dừng lại ở quán nhỏ nào đó và thưởng thức thắng cố cùng rượu Mông Pê. Rượu Mông Pê là một loại rượu nổi tiếng của vùng được chưng cất từ hạt ngô ủ men lá, rượu rất thơm, nồng mà dịu, mạnh mà không choáng khiến người uống lúc nào cũng lâng lâng, say mà vẫn tỉnh, tỉnh mà vẫn say.

Mỗi phiên chợ không chỉ đơn thuần là mua bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi giao lưu tìm hiểu, chọn bạn đời của những chàng trai, cô gái Mông. Điểm đặc biệt nhất, độc đáo của những phiên chợ Tủa Chùa so với nhiều phiên chợ vùng cao ở vùng Tây Bắc là họp lùi ngày. Nếu tuần này họp vào ngày chủ nhật thì tuần sau sẽ là thứ 7 và tuần kế tiếp sẽ vào thứ 6...

Từ bao đời nay, mỗi phiên chợ đều được bà con các dân tộc xem như ngày hội. Ngoài mục đích xuống chợ để mua bán, trao đổi hàng hóa, thì đây cũng là dịp để nghi ngơi, giao lưu, gặp gỡ và còn là nơi để các chàng trai, cô gái tìm hiểu giao duyên. Dẫu cuộc sống đã có nhiều đổi thay, nhưng với bà con các dân tộc trong huyện, phiên chợ Tủa Chùa vẫn mãi là ngày hội, tuần có một lần.

Châu Tủa Chùa của Khu tự trị Thái - Mèo được thành lập ngày 18/10/1955 do tách từ châu Mường Lay và gồm 8 xã: Tà Phình (tức Tả Phìn), Lao Sà Phình (Lao Xả Phình), Sìn Phình (Sính Phình), Sin Chai (Sín Chải), Ta Sin Thang (Tả Sìn Thàng), Trung Thu, Quyết Tiến, Cộng Hòa. Từ năm 1962 là huyện thuộc tỉnh Lai Châu cũ cho đến khi tách tỉnh. Từ ngày 26 tháng 11 năm 2003 thuộc tỉnh Điện Biên.

Ngoài chợ phiên, Tủa Chùa còn là nơi hấp dẫn du khách ưa mạo hiểm, phiêu lưu tìm tòi, khám phá thiên nhiên bởi hệ thống hang động kỳ vĩ. Động Xá Nhè nằm dưới chân vách núi cao dựng đứng, cách trung tâm xã chừng 1km giữa khung cảnh thiên nhiên hoang sơ.

Được người dân địa phương gọi là động Khó Xo (hang thuốc nổ). Đây cũng là một trong những hang động đẹp nhất ở Điện Biên với chiều dài 700m gồm 5 khoang lớn, nhỏ khác nhau, với vòm hang hình vòng cung, nhũ đá nhiều hình thù lạ mắt nối tiếp nhau từ cao xuống thấp. Mỗi khoang động đều tạo cho du khách sự bất ngờ, ngạc nhiên thú vị, kích thích trí tò mò, đam mê khám phá.

Cách xã Tả Sìn Thàng chưa đầy 20 phút đi xe máy là bãi đá cổ Tả Phìn, hùng vĩ không kém cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc, Hà Giang.

Trước đây để tới Tả Sìn Thàng là thách thức không nhỏ với những ai không quen đi đường vùng cao bởi những dốc đá chênh vênh. Với những du khách thích leo núi, mạo hiểm với độ cao thì có thể lên thăm rừng thông tự nhiên ở xã Trung Thu với tổng diện tích 47ha. Nằm thấp thoáng phía dưới là bản của đồng bào Mông, du khách có thể đi bộ vãn cảnh và tìm hiểu văn hóa đặc trưng, thưởng thức những món ăn truyền thống.

Tủa Chùa có sông Đà chảy qua, một đầu có thể tạo thành tuyến du lịch sông nước sang thị xã Mường Lay, đầu kia sang khu vực Pá Uôn, huyện Quỳnh Nhai (Sơn La) nối liền với lòng hồ thủy điện Sơn La. Tại các bản tái định cư Huổi Tráng 1, Huổi Tráng 2 hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư mới khang trang, phục vụ du lịch khá tốt, nếu được đào tạo bài bản các tour, các công ty lữ hành có thể liên kết với người dân nơi đây tổ chức đón khách theo mô hình du lịch homestay.

Cứ vào ngày chủ nhật hàng tuần, dường như đã đến hẹn, bà con các dân tộc ở khắp các bản trên mường dưới trong huyện Tủa Chùa lại xúng xinh trong những bộ váy áo còn hương mùi chàm, còn sáng ánh tơ xuống chợ phiên huyện.

Tủa Chùa là một huyện miền núi thuộc tỉnh Điện Biên. Phía bắc và đông bắc giáp tỉnh Lai Châu, phía tây giáp huyện Mường Chà, phía nam giáp huyện Tuần Giáo và phía đông là tỉnh Sơn La. Tủa Chùa có địa hình núi thấp với các đỉnh Na Tung cao 1.585m ở phía đông nam, Phình Ho cao 1.585 m ở phía tây bắc và cao nguyên Xín Chải dạng cao nguyên đá vôi. Có sông Đà chảy qua ranh giới phía đông và phía bắc của huyện, sông Nậm Mức chảy qua ranh giới phía tây của huyện để nối vào sông Đà tại phía tây bắc huyện này trong địa giới xã Lao Xả Phình.

Đây là nơi cư trú của 7 dân tộc gồm: Mông, Thái, Kinh, Khơ Mú, Dao, Hoa, Phù Lá, trong đó dân tộc Mông chiếm tới 73%, vì lẽ đó mà Tủa Chùa được coi là vùng đất phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của đồng bào dân tộc Mông. Đặc trưng hấp dẫn du khách ưa tìm tòi khám phá ở Tủa Chùa là các chợ phiên. Ngoài chợ phiên chính của huyện còn có chợ phiên ở 2 xã Xá Nhè và Tả Sìn Thàng. Nơi đây nổi tiếng với những sản phẩm ẩm thực được nhiều người biết đến như “rượu Mông pê, dê núi đá, cá sông Đà, gà đi bộ, chè cổ thụ”.

Khác đôi chút với những phiên chợ khác, chợ phiên Tủa Chùa được họp ngày Chủ nhật, ngay tại trung tâm huyện nên sản phẩm bầy bán ở đây khá phong phú và đa dạng. Tuy vậy chợ vẫn giữ được nét đặc sắc của những phiên chợ vùng cao, sản phẩm bầy bán chủ yếu vẫn là những nông thổ sản do đồng bào các dân tộc làm ra.

Ngay từ sớm, khắp các nẻo đường dẫn đến chợ đã sôi động, náo nhiệt. Không còn những tiếng vó ngựa, lục lạc như xưa, mà thay vào đó là tiếng 'rừm, rừm' của những động cơ xe máy hòa chung tiếng nói cười của các bà, các chị, nam thanh nữ tú xuống chợ.

Ở Tủa Chùa, người địa phương trồng ngô, lúa, chè, bông, trẩu, đồng cỏ và một số loài cây ăn quả. Nuôi bò, trâu, ong mật, dê và khai thác dược liệu, đặc sản rừng. Vậy nên phiên chợ bán nhiều mặt hàng liên quan như những vuông vải, gánh rau, gùi ngô, can rượu, con gà, chú lợn hay những vật dụng như con dao, lưỡi cày...

Cách thị trấn Tủa Chùa chừng 15km, cứ 6 ngày một lần diễn ra chợ phiên Xá Nhè. Đây là phiên chợ hội tụ đủ sắc màu của đồng bào dân tộc Mông, Dao, Thái Phù Lá từ các xã: Xá Nhè, Mường Đun, Tủa Thàng và Mường Báng. Tuy mới thành lập lại vài năm gần đây, nhưng chợ phiên Xá Nhè đã trở thành nơi giao lưu và tập trung mua bán, trao đổi hàng hóa, sản vật giữa người dân trong vùng.

Còn chợ phiên Tả Sìn Thàng có từ thời Pháp thuộc. Ở đây người dân mua bán, trao đổi tất cả những mặt hàng phục vụ sinh hoạt thường ngày. Từ vật phẩm “cây nhà lá vườn” như con lợn cắp nách, con gà, gạo nương đến kim, chỉ thêu thùa, đồ trang điểm và những sản vật của địa phương, như: rượu Mông pê, thịt thú rừng, măng khô, mật ong, chè Shan tuyết hay những vuông vải thổ cẩm rực rỡ đủ sắc màu…

Khi đã thấm mệt, du khách sẽ dừng lại ở quán nhỏ nào đó và thưởng thức thắng cố cùng rượu Mông Pê. Rượu Mông Pê là một loại rượu nổi tiếng của vùng được chưng cất từ hạt ngô ủ men lá, rượu rất thơm, nồng mà dịu, mạnh mà không choáng khiến người uống lúc nào cũng lâng lâng, say mà vẫn tỉnh, tỉnh mà vẫn say.

Mỗi phiên chợ không chỉ đơn thuần là mua bán, trao đổi hàng hóa mà còn là nơi giao lưu tìm hiểu, chọn bạn đời của những chàng trai, cô gái Mông. Điểm đặc biệt nhất, độc đáo của những phiên chợ Tủa Chùa so với nhiều phiên chợ vùng cao ở vùng Tây Bắc là họp lùi ngày. Nếu tuần này họp vào ngày chủ nhật thì tuần sau sẽ là thứ 7 và tuần kế tiếp sẽ vào thứ 6...

Từ bao đời nay, mỗi phiên chợ đều được bà con các dân tộc xem như ngày hội. Ngoài mục đích xuống chợ để mua bán, trao đổi hàng hóa, thì đây cũng là dịp để nghi ngơi, giao lưu, gặp gỡ và còn là nơi để các chàng trai, cô gái tìm hiểu giao duyên. Dẫu cuộc sống đã có nhiều đổi thay, nhưng với bà con các dân tộc trong huyện, phiên chợ Tủa Chùa vẫn mãi là ngày hội, tuần có một lần.

Châu Tủa Chùa của Khu tự trị Thái - Mèo được thành lập ngày 18/10/1955 do tách từ châu Mường Lay và gồm 8 xã: Tà Phình (tức Tả Phìn), Lao Sà Phình (Lao Xả Phình), Sìn Phình (Sính Phình), Sin Chai (Sín Chải), Ta Sin Thang (Tả Sìn Thàng), Trung Thu, Quyết Tiến, Cộng Hòa. Từ năm 1962 là huyện thuộc tỉnh Lai Châu cũ cho đến khi tách tỉnh. Từ ngày 26 tháng 11 năm 2003 thuộc tỉnh Điện Biên.

Ngoài chợ phiên, Tủa Chùa còn là nơi hấp dẫn du khách ưa mạo hiểm, phiêu lưu tìm tòi, khám phá thiên nhiên bởi hệ thống hang động kỳ vĩ. Động Xá Nhè nằm dưới chân vách núi cao dựng đứng, cách trung tâm xã chừng 1km giữa khung cảnh thiên nhiên hoang sơ.

Được người dân địa phương gọi là động Khó Xo (hang thuốc nổ). Đây cũng là một trong những hang động đẹp nhất ở Điện Biên với chiều dài 700m gồm 5 khoang lớn, nhỏ khác nhau, với vòm hang hình vòng cung, nhũ đá nhiều hình thù lạ mắt nối tiếp nhau từ cao xuống thấp. Mỗi khoang động đều tạo cho du khách sự bất ngờ, ngạc nhiên thú vị, kích thích trí tò mò, đam mê khám phá.

Cách xã Tả Sìn Thàng chưa đầy 20 phút đi xe máy là bãi đá cổ Tả Phìn, hùng vĩ không kém cao nguyên đá Đồng Văn, Mèo Vạc, Hà Giang.

Trước đây để tới Tả Sìn Thàng là thách thức không nhỏ với những ai không quen đi đường vùng cao bởi những dốc đá chênh vênh. Với những du khách thích leo núi, mạo hiểm với độ cao thì có thể lên thăm rừng thông tự nhiên ở xã Trung Thu với tổng diện tích 47ha. Nằm thấp thoáng phía dưới là bản của đồng bào Mông, du khách có thể đi bộ vãn cảnh và tìm hiểu văn hóa đặc trưng, thưởng thức những món ăn truyền thống.

Tủa Chùa có sông Đà chảy qua, một đầu có thể tạo thành tuyến du lịch sông nước sang thị xã Mường Lay, đầu kia sang khu vực Pá Uôn, huyện Quỳnh Nhai (Sơn La) nối liền với lòng hồ thủy điện Sơn La. Tại các bản tái định cư Huổi Tráng 1, Huổi Tráng 2 hệ thống cơ sở hạ tầng được đầu tư mới khang trang, phục vụ du lịch khá tốt, nếu được đào tạo bài bản các tour, các công ty lữ hành có thể liên kết với người dân nơi đây tổ chức đón khách theo mô hình du lịch homestay.