Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Mùa đi bung ống

(Dân trí) - Khi nắng mùa thu lướt vội qua tay, miền Trung bắt đầu mưa gió dầm dề, trời cũng vừa se lạnh, ấy là lúc người dân quê tôi rộn ràng đi bung ống. Bung ống, thổi ống hay xay ống là cụm từ quen thuộc mà quê tôi thường dùng để chỉ việc xay kẹo ống gạo, nhiều nơi khác gọi là bỏng gạo.

Xóm nhỏ nằm ven lộ đã quá quen với cảnh người chen chúc chờ tới lượt mình bung ống ở nhà chú Sáu. Một chiều đầu đông, chú Sáu vui vẻ lấy tấm biển bằng gỗ, bên trên sơn trắng dòng chữ “thổi ống” rồi cắm trước quán xay gạo. Cái tấm biển ấy dễ chừng cũng đã gần chục năm, gỗ bắt đầu mục đen, nhưng dòng chữ vừa được sơn mới nên sáng trưng, rõ ràng.

Đám con nít bắt đầu xôn xao, chờ đi học về là chạy tuốt lui sau nhà, xin mẹ vài lon gạo, gói mì tôm, ít đỗ xanh, ngô, đường rồi í ới gọi nhau đi thổi ống. Lúc ngồi chờ tới lượt, cả  chủ cả khách cười nói rôm rả, từ chuyện cơn bão năm này đến cơn lũ năm kia, từ chuyện đám cưới trong xóm đến chuyện nhà nọ có con đi du học. Đám con nít thì mân mê những hạt gạo, dám chừng thòm thèm, chờ đợi giây phút gạo thành ống kẹo.

Dưới tiếng máy nổ chạy xình xịch, dì Mỹ trộn đều các thức gạo, đỗ mà khách hàng chuẩn bị sẵn rồi cho vào lỗ nhỏ. Chú Sáu cầm cái kéo ngồi chờ sẵn, gạo qua máy, qua lỗ bé tí ấy là chảy ra thành ống kẹo nghi ngút khói. Lúc này, chú bắt đầu ung dung cắt thành những ống vừa tầm cái thước kẻ.

Người nào người nấy ngồi chực sẵn, chờ ống kẹo vừa cắt ra là hì hụi vừa thổi vừa cho vào bao. Chốc sau, chỉ vài lon gạo  đã được một bao đầy ống. Mùi của gạo, của ngô, của đỗ xanh tỏa ra thơm lừng. Nhà ai trót bỏ nhiều đường thì ống gạo xay ra nhỏ tí, có khi còn bị cháy đen thui, dì Mỹ phải cập rập lấy gạo đổ thêm không kịp. Những ống gạo màu trắng nhưng ai thêm nhiều ngô thì có màu vàng nhạt, nhiều đỗ xanh thì ống lại có màu xanh dịu.

Tất cả vị đồng quê  trộn lẫn thành một thứ quà ngon ngọt chẳng thể lẫn vào đâu. Cho ống vào miệng nghe giòn rụm, ăn giòn tan vui tai. Mệ già hàm răng đen nhánh, cầm ống hít hà rồi cho vào miệng ăn ngon lành. Mệ cười hiền, ăn bánh kẹo đắt tiền mà lo chất bảo quản, chứ cứ ăn thứ ống như mình đây thì lo gì.

Đám con nít ở làng khác thường đội mưa đội gió đạp xe đi bung ống. Đứa nào đứa nấy cầm bao ống đi về, treo lủng lẳng sau xe đạp mà mặt mày hớn hở đến thương. Nhiều dì, nhiều mệ cũng tay xách cả bao tải ống, khấp khởi ra về. Thứ quà này khi xay ra rỗng nhẹ bên trong, nên nhác thấy ai vác cả bao tải đằng sau mà nhẹ bẫng là biết ngay vừa đi bung ống.

Trong làng, chỉ có nhà chú Sáu làm nghề này. Vợ chồng chú sắm cái máy rồi ngồi đây bung ống cũng hơn mười năm nay. Chú cười khề khà, vui vì nhiều người còn mê thứ quà quê này, đặc biệt là đám con nít. Cứ mỗi ngày mưa, chú Sáu và dì Thủy lại làm không ngơi tay. Mùa nông nhàn, lại mưa lớn, ở nhà buồn miệng nên già trẻ, lớn bé bắt đầu rủ nhau đi bung ống. Tiền xay ống lại khá rẻ, chỉ một ngàn trên một lon gạo. Bởi vậy, trời càng mưa dầm dề, người đi bung ống càng nhiều là vậy.

Bạn đi du học ở xa, thấy ai đó chụp ảnh những ống gạo quê mình đưa lên mạng xã hội nên nhớ quay quắt. Chỉ ước được về nhà mùa này, nằm trong chăn ấm với mấy chị em rồi nhấm nháp ống gạo.

Bạn ở thành phố, bảo ở đó cũng có bán sẵn, nhưng cái vị ống không như ở quê. Có lẽ, bởi ống gạo bé xíu này chất chứa cả hồn quê trong đó, là tinh hoa từ gạo, từ đỗ, từ những sản vật bình dị đã lớn lên trên đất quê mình. Thế nên, ống gạo và ký ức những ngày đi bung ống sẽ còn mãi trong tuổi thơ của bao đứa trẻ quê nghèo.

Theo Diệu Ái (báo Dân Trí)
(Dân trí) - Khi nắng mùa thu lướt vội qua tay, miền Trung bắt đầu mưa gió dầm dề, trời cũng vừa se lạnh, ấy là lúc người dân quê tôi rộn ràng đi bung ống. Bung ống, thổi ống hay xay ống là cụm từ quen thuộc mà quê tôi thường dùng để chỉ việc xay kẹo ống gạo, nhiều nơi khác gọi là bỏng gạo.

Xóm nhỏ nằm ven lộ đã quá quen với cảnh người chen chúc chờ tới lượt mình bung ống ở nhà chú Sáu. Một chiều đầu đông, chú Sáu vui vẻ lấy tấm biển bằng gỗ, bên trên sơn trắng dòng chữ “thổi ống” rồi cắm trước quán xay gạo. Cái tấm biển ấy dễ chừng cũng đã gần chục năm, gỗ bắt đầu mục đen, nhưng dòng chữ vừa được sơn mới nên sáng trưng, rõ ràng.

Đám con nít bắt đầu xôn xao, chờ đi học về là chạy tuốt lui sau nhà, xin mẹ vài lon gạo, gói mì tôm, ít đỗ xanh, ngô, đường rồi í ới gọi nhau đi thổi ống. Lúc ngồi chờ tới lượt, cả  chủ cả khách cười nói rôm rả, từ chuyện cơn bão năm này đến cơn lũ năm kia, từ chuyện đám cưới trong xóm đến chuyện nhà nọ có con đi du học. Đám con nít thì mân mê những hạt gạo, dám chừng thòm thèm, chờ đợi giây phút gạo thành ống kẹo.

Dưới tiếng máy nổ chạy xình xịch, dì Mỹ trộn đều các thức gạo, đỗ mà khách hàng chuẩn bị sẵn rồi cho vào lỗ nhỏ. Chú Sáu cầm cái kéo ngồi chờ sẵn, gạo qua máy, qua lỗ bé tí ấy là chảy ra thành ống kẹo nghi ngút khói. Lúc này, chú bắt đầu ung dung cắt thành những ống vừa tầm cái thước kẻ.

Người nào người nấy ngồi chực sẵn, chờ ống kẹo vừa cắt ra là hì hụi vừa thổi vừa cho vào bao. Chốc sau, chỉ vài lon gạo  đã được một bao đầy ống. Mùi của gạo, của ngô, của đỗ xanh tỏa ra thơm lừng. Nhà ai trót bỏ nhiều đường thì ống gạo xay ra nhỏ tí, có khi còn bị cháy đen thui, dì Mỹ phải cập rập lấy gạo đổ thêm không kịp. Những ống gạo màu trắng nhưng ai thêm nhiều ngô thì có màu vàng nhạt, nhiều đỗ xanh thì ống lại có màu xanh dịu.

Tất cả vị đồng quê  trộn lẫn thành một thứ quà ngon ngọt chẳng thể lẫn vào đâu. Cho ống vào miệng nghe giòn rụm, ăn giòn tan vui tai. Mệ già hàm răng đen nhánh, cầm ống hít hà rồi cho vào miệng ăn ngon lành. Mệ cười hiền, ăn bánh kẹo đắt tiền mà lo chất bảo quản, chứ cứ ăn thứ ống như mình đây thì lo gì.

Đám con nít ở làng khác thường đội mưa đội gió đạp xe đi bung ống. Đứa nào đứa nấy cầm bao ống đi về, treo lủng lẳng sau xe đạp mà mặt mày hớn hở đến thương. Nhiều dì, nhiều mệ cũng tay xách cả bao tải ống, khấp khởi ra về. Thứ quà này khi xay ra rỗng nhẹ bên trong, nên nhác thấy ai vác cả bao tải đằng sau mà nhẹ bẫng là biết ngay vừa đi bung ống.

Trong làng, chỉ có nhà chú Sáu làm nghề này. Vợ chồng chú sắm cái máy rồi ngồi đây bung ống cũng hơn mười năm nay. Chú cười khề khà, vui vì nhiều người còn mê thứ quà quê này, đặc biệt là đám con nít. Cứ mỗi ngày mưa, chú Sáu và dì Thủy lại làm không ngơi tay. Mùa nông nhàn, lại mưa lớn, ở nhà buồn miệng nên già trẻ, lớn bé bắt đầu rủ nhau đi bung ống. Tiền xay ống lại khá rẻ, chỉ một ngàn trên một lon gạo. Bởi vậy, trời càng mưa dầm dề, người đi bung ống càng nhiều là vậy.

Bạn đi du học ở xa, thấy ai đó chụp ảnh những ống gạo quê mình đưa lên mạng xã hội nên nhớ quay quắt. Chỉ ước được về nhà mùa này, nằm trong chăn ấm với mấy chị em rồi nhấm nháp ống gạo.

Bạn ở thành phố, bảo ở đó cũng có bán sẵn, nhưng cái vị ống không như ở quê. Có lẽ, bởi ống gạo bé xíu này chất chứa cả hồn quê trong đó, là tinh hoa từ gạo, từ đỗ, từ những sản vật bình dị đã lớn lên trên đất quê mình. Thế nên, ống gạo và ký ức những ngày đi bung ống sẽ còn mãi trong tuổi thơ của bao đứa trẻ quê nghèo.

Theo Diệu Ái (báo Dân Trí)

Làng dệt thổ cẩm Hà Ri

Cách Quy Nhơn khoảng 80km, Hà Ri là nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc BaNa nhất Bình Định nên vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, đặc biệt là nghề dệt thổ cẩm. Khi rổi việc hoặc những lúc nông nhàn, chị em phụ nữ lại miệt mài bên khung cửi để dệt ra những tấm vải thổ cẩm đẹp nhất cho mình và cho gia đình.

Nghề dệt thổ cẩm có từ lâu đời trong cuộc sống của người Bana ở Vĩnh Thạnh. Tuy nhiên, qua nhiều năm do nhịp sống thay đổi, nhiều người sử dụng các sản phẩm hàng may mặc hiện đại nên các sản phẩm thổ cẩm có ít người dùng, nghề dệt thổ cẩm cũng dần mai một. Những đường nét hoa văn thổ cẩm truyền thống đã dần vắng bóng trên trang phục người Bana trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, kể cả những ngày lễ hội.

Do đó, để khôi phục lại nghề dệt thổ cẩm-hoạt động mang đậm nét văn hóa truyền thống của người Bana, được sự hỗ trợ của tỉnh, thời gian qua huyện Vĩnh Thạnh đã tổ chức các lớp dạy nghề, xây dựng nhà trưng bày giới thiệu sản phẩm thổ cẩm...và chương trình khôi phục nghề truyền thống này bước đầu có tín hiệu khả quan.

Nghề dệt thổ cẩm ở các làng Bana trước đây, khi còn phải tự làm sợi, cứ quãng tháng ba, tháng tư là bà con lên rẫy trồng bông, đến tháng tám, tháng chín thì bông được thu hoạch. Quả bông đem phơi khô rồi kéo ra và quay thành sợi. Còn với nguyên liệu dệt bằng cây gai thì lấy dao cạo lớp vỏ bên ngoài, đập dẹp, đem phơi khô rồi dùng tay xé nhỏ, xoắn hai, ba sợi lại đem ngâm với nước vo gạo cho sợi kết lại...

Thuốc nhuộm là củ, vỏ cây được lấy từ rừng về, đem nấu và vắt lấy nước. Sợi được ngâm vào thuốc, qua một đêm vớt ra, phơi khô sau đó đưa lên sa quay thành từng cuộn theo từng màu sắc riêng biệt. Đó là phần nguyên liệu, còn khung dệt chỉ là một khung gỗ, bộ sa quay để kéo sợi. Để dệt một tấm chăn hay một tấm vải đủ may một bộ áo váy nữ nếu rảnh lúc nào làm lúc nấy phải mất cả tháng trời, còn nếu dệt ròng thì cũng khoảng bốn đến năm ngày.

Về cách dệt thổ cẩm thì kỹ thuật của người Bana tương đối giống với một số dân tộc khác như Chăm, H’rê. Song về hoa văn, họa tiết trang trí thì có nhiều nét khác nhau. Thổ cẩm của người Bana K’riêm ở Vĩnh Thạnh dùng nhiều họa tiết hoa văn hình học với các đường thẳng, đường cong, hình tam giác. Họa tiết thường là những nét hoa văn li ti chồng lên nhau tạo thành một dải phức hợp quanh một mẫu trang trí chính là ngôi sao tám cánh dệt trên nền trắng.

Người Bana chọn màu đen làm màu chủ đạo trong trang trang phục thổ cẩm kết hợp với các màu đỏ, trắng và điểm một ít màu vàng, xanh non tạo nên ấn tượng mạnh mẽ nhờ sự tương phản. Có thể nói rằng, thổ cẩm của người Bana chính là sự kết tinh văn hoá trong môi trường tự nhiên, xã hội riêng biệt. Nó mang nét đẹp của sự hồn nhiên, thanh khiết. Như đất, như nước, như núi rừng Tây Nguyên.

Ngày nay nghề dệt thổ cẩm có nhiều thuận lợi hơn, nguyên liệu bán sẵn ngoài chợ khá nhiều, các mí thường đi chợ mua chỉ màu và vải may sẵn về dệt. Chỉ màu ngoài chợ có đủ màu sắc, vừa bền đẹp lại vừa rẻ. Người dệt mua chỉ màu về chỉ để dệt hoa văn cạp váy, còn thân váy là vải đen được may nối vào. Thuận lợi là thế, nhưng nhìn vào một chiếc váy bằng thổ cẩm bây giờ hình thư thiếu hẳn độ sâu và vẻ đẹp hồn nhiên của thổ cẩm truyền thống.

Hiện nay ở mỗi làng miền núi ở Vĩnh Thạnh có khoảng từ mười lăm đến hai mươi khung dệt và cũng chừng ấy người làm nghề dệt, chủ yếu là những người đã trên bốn mươi tuổi. Các mí (các cô) dệt khi có thời gian rảnh rỗi, khi trông nhà, lúc trông con nhỏ. Hết việc nhà thì ngồi vào dệt. Có khi một tấm vải áo dệt hàng tháng trời vẫn còn nằm dở dang trên khung cửi. Theo nhiều người hiện còn làm nghề dệt thì lâu nay bà con chỉ dệt tranh thủ lúc công việc nương rẫy, đồng áng đã tạm xong.

Tuy việc khôi phục và phát triển nghề truyền thống dệt thổ cẩm ở Vĩnh Thạnh bước đầu có tín hiệu khả quan, song cũng có những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Chẳng hạn như việc tuyên truyền ý thức về bảo tồn văn hoá dân tộc - trong đó có thổ cẩm - cho lớp trẻ tại các làng cần được tăng cường hơn.

Bên cạnh đó cũng cần tạo điều kiện để các cơ sở làm nghề đổi mới hình thức sản phẩm phù hợp thị hiếu thị trường và có các biện pháp thiết thực giải quyết đầu ra cho sản phẩm...
Một phần sản phẩm làm ra là để phục vụ nhu cầu sử dụng của đồng bào Bana trong huyện, tuy nhiên trong tương lại phần lớn sản phẩm thổ cẩm sẽ được tiêu thụ mạnh hơn phục vụ cho khách du lịch, khi tour du lịch sinh thái Quy Nhơn-Tây Sơn-Vĩnh Thạnh được mở rộng.

Theo website Dulichbinhdinh
Cách Quy Nhơn khoảng 80km, Hà Ri là nơi tập trung nhiều đồng bào dân tộc BaNa nhất Bình Định nên vẫn còn lưu giữ được những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình, đặc biệt là nghề dệt thổ cẩm. Khi rổi việc hoặc những lúc nông nhàn, chị em phụ nữ lại miệt mài bên khung cửi để dệt ra những tấm vải thổ cẩm đẹp nhất cho mình và cho gia đình.

Nghề dệt thổ cẩm có từ lâu đời trong cuộc sống của người Bana ở Vĩnh Thạnh. Tuy nhiên, qua nhiều năm do nhịp sống thay đổi, nhiều người sử dụng các sản phẩm hàng may mặc hiện đại nên các sản phẩm thổ cẩm có ít người dùng, nghề dệt thổ cẩm cũng dần mai một. Những đường nét hoa văn thổ cẩm truyền thống đã dần vắng bóng trên trang phục người Bana trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày, kể cả những ngày lễ hội.

Do đó, để khôi phục lại nghề dệt thổ cẩm-hoạt động mang đậm nét văn hóa truyền thống của người Bana, được sự hỗ trợ của tỉnh, thời gian qua huyện Vĩnh Thạnh đã tổ chức các lớp dạy nghề, xây dựng nhà trưng bày giới thiệu sản phẩm thổ cẩm...và chương trình khôi phục nghề truyền thống này bước đầu có tín hiệu khả quan.

Nghề dệt thổ cẩm ở các làng Bana trước đây, khi còn phải tự làm sợi, cứ quãng tháng ba, tháng tư là bà con lên rẫy trồng bông, đến tháng tám, tháng chín thì bông được thu hoạch. Quả bông đem phơi khô rồi kéo ra và quay thành sợi. Còn với nguyên liệu dệt bằng cây gai thì lấy dao cạo lớp vỏ bên ngoài, đập dẹp, đem phơi khô rồi dùng tay xé nhỏ, xoắn hai, ba sợi lại đem ngâm với nước vo gạo cho sợi kết lại...

Thuốc nhuộm là củ, vỏ cây được lấy từ rừng về, đem nấu và vắt lấy nước. Sợi được ngâm vào thuốc, qua một đêm vớt ra, phơi khô sau đó đưa lên sa quay thành từng cuộn theo từng màu sắc riêng biệt. Đó là phần nguyên liệu, còn khung dệt chỉ là một khung gỗ, bộ sa quay để kéo sợi. Để dệt một tấm chăn hay một tấm vải đủ may một bộ áo váy nữ nếu rảnh lúc nào làm lúc nấy phải mất cả tháng trời, còn nếu dệt ròng thì cũng khoảng bốn đến năm ngày.

Về cách dệt thổ cẩm thì kỹ thuật của người Bana tương đối giống với một số dân tộc khác như Chăm, H’rê. Song về hoa văn, họa tiết trang trí thì có nhiều nét khác nhau. Thổ cẩm của người Bana K’riêm ở Vĩnh Thạnh dùng nhiều họa tiết hoa văn hình học với các đường thẳng, đường cong, hình tam giác. Họa tiết thường là những nét hoa văn li ti chồng lên nhau tạo thành một dải phức hợp quanh một mẫu trang trí chính là ngôi sao tám cánh dệt trên nền trắng.

Người Bana chọn màu đen làm màu chủ đạo trong trang trang phục thổ cẩm kết hợp với các màu đỏ, trắng và điểm một ít màu vàng, xanh non tạo nên ấn tượng mạnh mẽ nhờ sự tương phản. Có thể nói rằng, thổ cẩm của người Bana chính là sự kết tinh văn hoá trong môi trường tự nhiên, xã hội riêng biệt. Nó mang nét đẹp của sự hồn nhiên, thanh khiết. Như đất, như nước, như núi rừng Tây Nguyên.

Ngày nay nghề dệt thổ cẩm có nhiều thuận lợi hơn, nguyên liệu bán sẵn ngoài chợ khá nhiều, các mí thường đi chợ mua chỉ màu và vải may sẵn về dệt. Chỉ màu ngoài chợ có đủ màu sắc, vừa bền đẹp lại vừa rẻ. Người dệt mua chỉ màu về chỉ để dệt hoa văn cạp váy, còn thân váy là vải đen được may nối vào. Thuận lợi là thế, nhưng nhìn vào một chiếc váy bằng thổ cẩm bây giờ hình thư thiếu hẳn độ sâu và vẻ đẹp hồn nhiên của thổ cẩm truyền thống.

Hiện nay ở mỗi làng miền núi ở Vĩnh Thạnh có khoảng từ mười lăm đến hai mươi khung dệt và cũng chừng ấy người làm nghề dệt, chủ yếu là những người đã trên bốn mươi tuổi. Các mí (các cô) dệt khi có thời gian rảnh rỗi, khi trông nhà, lúc trông con nhỏ. Hết việc nhà thì ngồi vào dệt. Có khi một tấm vải áo dệt hàng tháng trời vẫn còn nằm dở dang trên khung cửi. Theo nhiều người hiện còn làm nghề dệt thì lâu nay bà con chỉ dệt tranh thủ lúc công việc nương rẫy, đồng áng đã tạm xong.

Tuy việc khôi phục và phát triển nghề truyền thống dệt thổ cẩm ở Vĩnh Thạnh bước đầu có tín hiệu khả quan, song cũng có những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Chẳng hạn như việc tuyên truyền ý thức về bảo tồn văn hoá dân tộc - trong đó có thổ cẩm - cho lớp trẻ tại các làng cần được tăng cường hơn.

Bên cạnh đó cũng cần tạo điều kiện để các cơ sở làm nghề đổi mới hình thức sản phẩm phù hợp thị hiếu thị trường và có các biện pháp thiết thực giải quyết đầu ra cho sản phẩm...
Một phần sản phẩm làm ra là để phục vụ nhu cầu sử dụng của đồng bào Bana trong huyện, tuy nhiên trong tương lại phần lớn sản phẩm thổ cẩm sẽ được tiêu thụ mạnh hơn phục vụ cho khách du lịch, khi tour du lịch sinh thái Quy Nhơn-Tây Sơn-Vĩnh Thạnh được mở rộng.

Theo website Dulichbinhdinh

Ngọt ngào mạch nha xứ Quảng

(TTO) - Du khách khi rời Quảng Ngãi thường mua đặc sản mạch nha về làm quà cho người thân. Cắn miếng bánh tráng giòn rụm, vị ngọt thanh của mạch nha nơi đầu lưỡi như để lại dư vị ngọt ngào của vùng đất miền Trung đầy nắng gió...

Mạch nha Quảng Ngãi vốn nổi tiếng từ xưa. Theo Địa chí Quảng Ngãi, từ những năm 1930-1935, mạch nha Quảng Ngãi đã được trưng bày tại hội chợ ở Huế, Hà Nội và được công nhận là sản phẩm tiểu thủ công nghiệp xuất sắc. Triều đình Huế từng phong hàm "Cửu phẩm văn giai" cho nghệ nhân chế biến mạch nha.

Tương truyền nghề làm mạch nha xuất phát từ gia đình ông Phó Sáu ở thôn Thiết Trường, tổng Lại Đức, nay là thị trấn Mộ Đức. Sau đó, ông truyền nghề cho chàng rể có tên Trần Diêu kế nghiệp sản xuất mạch nha khá quy mô tại thị trấn Thi Phổ và thị trấn Đồng Cát. Do vậy mới có câu ca "Kẹo gương Thu Xà, Mạch nha Thi Phổ".

Muốn làm mạch nha, trước tiên chọn giống lúa thơm đem ngâm cho nứt thành mộng rồi đem phơi khô xay nhuyễn thành bột. Sau đó, chọn giống nếp thơm, dẻo đem nấu thành xôi rồi ủ với mộng lúa đã xay chừng 12 giờ cho lên men rồi dùng kít ép lấy nước đem nấu cô lại thành mạch nha.

Quy trình làm mạch nha ở Mộ Đức nhiều người biết, nhưng cái tài của người nấu mạch nha là chọn giống nếp bầu dẻo thơm để nấu thành xôi, biết ủ mộng với xôi theo đúng cân lượng. Đặc biệt trong quá trình nấu nước (đã ép sau khi ủ nếp và mộng lúa đã xay) phải có tỉ lệ phù hợp vì trong quá trình nấu nếu già lửa mạch nha sẽ có mùi khét, nếu nấu quá non thì mạch nha không dẻo, đụng vào sẽ dính tay và không để được lâu. Nấu mạch nha tới thì đổ vào lon sữa bò để nguội rồi đóng nắp.

Ở TP Quảng Ngãi có nhiều quầy bán mạch nha. Nhưng người sành mua thì từ TP Quảng Ngãi vẫn sẵn sàng vượt qua những đoạn đường xa để tìm đến những "lò" mạch nha nổi tiếng. Thậm chí, nhiều người Quảng Ngãi định cư ở nước ngoài có dịp đều nhờ người thân mua mạch nha quen thuộc để gửi cho mình.

Anh Nguyễn Kim Ngọc (thôn Tú Sơn 1, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức) tâm sự: “Đây là nghề gia truyền. Đời ông bà truyền cho cha mẹ đến đời mình cố gắng làm để giữ nghề”.

Cũng vì suy nghĩ như thế nên dù có nhiều nơi làm mạch nha có số lượng khá lớn để kinh doanh, nhưng quá ham lợi nhuận, nấu mạch chưa tới hoặc để già lửa mua về ăn nghe khét lẹt, nhưng với gia đình anh chất lượng rất quan trọng. Mở lon mạch nha anh chị nấu đã nghe thơm, cầm chiếc đũa vít một vích mạch nha mềm đều ăn vào nghe vị ngọt thanh nơi đầu lưỡi.

Từ mùa đông cho đến mùa hè, lúc nào cũng có gần 100 lon mạch nha bày trong tủ kính. Hết đợt này thì có đợt khác gối đầu, giá chỉ 15.000 đồng/lon. Gắn bó với nghề, mỗi ngày hai vợ chồng thu nhập được khoảng 250.000 đồng, bằng trị giá ngày công lao động ở địa phương. Hỏi tại sao không khuếch trương nghề, anh Ngọc cười: “Hữu xạ tự nhiên hương”.

Cũng nhờ những người cần mẫn, khéo tay, tâm huyết nên đặc sản mạch nha Quảng Ngãi còn mãi với thời gian.
Xem thêm >

Theo Võ Qúy Cầu (Du lịch Tuổi Trẻ)
(TTO) - Du khách khi rời Quảng Ngãi thường mua đặc sản mạch nha về làm quà cho người thân. Cắn miếng bánh tráng giòn rụm, vị ngọt thanh của mạch nha nơi đầu lưỡi như để lại dư vị ngọt ngào của vùng đất miền Trung đầy nắng gió...

Mạch nha Quảng Ngãi vốn nổi tiếng từ xưa. Theo Địa chí Quảng Ngãi, từ những năm 1930-1935, mạch nha Quảng Ngãi đã được trưng bày tại hội chợ ở Huế, Hà Nội và được công nhận là sản phẩm tiểu thủ công nghiệp xuất sắc. Triều đình Huế từng phong hàm "Cửu phẩm văn giai" cho nghệ nhân chế biến mạch nha.

Tương truyền nghề làm mạch nha xuất phát từ gia đình ông Phó Sáu ở thôn Thiết Trường, tổng Lại Đức, nay là thị trấn Mộ Đức. Sau đó, ông truyền nghề cho chàng rể có tên Trần Diêu kế nghiệp sản xuất mạch nha khá quy mô tại thị trấn Thi Phổ và thị trấn Đồng Cát. Do vậy mới có câu ca "Kẹo gương Thu Xà, Mạch nha Thi Phổ".

Muốn làm mạch nha, trước tiên chọn giống lúa thơm đem ngâm cho nứt thành mộng rồi đem phơi khô xay nhuyễn thành bột. Sau đó, chọn giống nếp thơm, dẻo đem nấu thành xôi rồi ủ với mộng lúa đã xay chừng 12 giờ cho lên men rồi dùng kít ép lấy nước đem nấu cô lại thành mạch nha.

Quy trình làm mạch nha ở Mộ Đức nhiều người biết, nhưng cái tài của người nấu mạch nha là chọn giống nếp bầu dẻo thơm để nấu thành xôi, biết ủ mộng với xôi theo đúng cân lượng. Đặc biệt trong quá trình nấu nước (đã ép sau khi ủ nếp và mộng lúa đã xay) phải có tỉ lệ phù hợp vì trong quá trình nấu nếu già lửa mạch nha sẽ có mùi khét, nếu nấu quá non thì mạch nha không dẻo, đụng vào sẽ dính tay và không để được lâu. Nấu mạch nha tới thì đổ vào lon sữa bò để nguội rồi đóng nắp.

Ở TP Quảng Ngãi có nhiều quầy bán mạch nha. Nhưng người sành mua thì từ TP Quảng Ngãi vẫn sẵn sàng vượt qua những đoạn đường xa để tìm đến những "lò" mạch nha nổi tiếng. Thậm chí, nhiều người Quảng Ngãi định cư ở nước ngoài có dịp đều nhờ người thân mua mạch nha quen thuộc để gửi cho mình.

Anh Nguyễn Kim Ngọc (thôn Tú Sơn 1, xã Đức Lân, huyện Mộ Đức) tâm sự: “Đây là nghề gia truyền. Đời ông bà truyền cho cha mẹ đến đời mình cố gắng làm để giữ nghề”.

Cũng vì suy nghĩ như thế nên dù có nhiều nơi làm mạch nha có số lượng khá lớn để kinh doanh, nhưng quá ham lợi nhuận, nấu mạch chưa tới hoặc để già lửa mua về ăn nghe khét lẹt, nhưng với gia đình anh chất lượng rất quan trọng. Mở lon mạch nha anh chị nấu đã nghe thơm, cầm chiếc đũa vít một vích mạch nha mềm đều ăn vào nghe vị ngọt thanh nơi đầu lưỡi.

Từ mùa đông cho đến mùa hè, lúc nào cũng có gần 100 lon mạch nha bày trong tủ kính. Hết đợt này thì có đợt khác gối đầu, giá chỉ 15.000 đồng/lon. Gắn bó với nghề, mỗi ngày hai vợ chồng thu nhập được khoảng 250.000 đồng, bằng trị giá ngày công lao động ở địa phương. Hỏi tại sao không khuếch trương nghề, anh Ngọc cười: “Hữu xạ tự nhiên hương”.

Cũng nhờ những người cần mẫn, khéo tay, tâm huyết nên đặc sản mạch nha Quảng Ngãi còn mãi với thời gian.
Xem thêm >

Theo Võ Qúy Cầu (Du lịch Tuổi Trẻ)

Thổ cẩm Chăm Phum Soài

An Giang – một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ có làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm Chăm nổi tiếng tại ấp Phum Soài, xã Châu Phong, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang được rất nhiều người biết đến. Người địa phương gọi tên là Thổ cẩm Phủm Xoài.

Nơi đây được biết đến như một trong những địa phương còn lưu giữ đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Chăm ở Việt Nam. Ngoài nghề nông nghiệp và đánh bắt thủy sản, phần lớn người dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như dệt, thêu, đan…

Sản phẩm được làm ra là những chiếc khăn choàng tắm, sà rông đầy màu sắc, thổ cẩm tinh xảo, túi đeo nhỏ xinh và đặc biệt là những chiếc khăn bịt tóc đẹp mắt. Đây là một trong những địa phương còn lưu giữ được nghề truyền thống của đồng bào dân tộc Chăm.

Có một thời gian nghề dệt ở Phủm Xoài bị “chựng” lại do khó khăn trong khâu nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Một số hộ bỏ nghề dệt sang làm nghề khác. Làng dệt đứng trước nguy cơ bị thất truyền. Năm 1997, sau khi tìm hiểu nguyện vọng của bà con, Sở Công nghiệp tỉnh An Giang quyết định hỗ trợ khôi phục nghề dệt ở Phủm Xoài. Và Hợp tác xã (HTX) Dệt Châu Giang ra đời với 50 hội viên được nhận vốn vay hỗ trợ từ chương trình khuyến công của tỉnh.

Nhiều người bỏ nghề mua bán trở về với nghề dệt truyền thống. Những nghệ nhân lâu năm trong nghề tham gia cải tiến kỹ thuật sử dụng con thoi trong khung dệt thay vì quăng thoi bằng tay sang dùng bằng dây giật nên công đoạn dệt nhanh gấp 10 lần. No In, một cô gái 19 tuổi, sau khi học xong phổ thông, đã theo nghề truyền thống gia đình học may, đan, dệt thổ cẩm phục vụ cho du khách.

Cô nói: “Lương khởi điểm mỗi tháng chỉ hơn 1 triệu đồng, nhưng do sinh sống ở  quê nên cũng tạm đủ, nhưng quan trọng nhất là em được làm nghề mình yêu thích nhất và thấy thổ cẩm của người Chăm được du khách mua nhiều”. Gia  đình nghệ nhân Se Mak làm chủ 3 khung dệt trong HTX đã có thu nhập ổn định. Chị có 2 con trai đang học ở nước ngoài và cô con gái theo nghề dệt của mẹ.

Hiện nay, HTX sản xuất khoảng 160 chủng loại sản phẩm, doanh thu bình quân trên 100 triệu đồng/tháng, trong đó 65% được du khách đặt mua. Sản phẩm của HTX có mặt tại các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Mỹ, Nhật, Canada…

Trong 6 lần tham dự triển lãm “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, thổ cẩm Phủm Xoài đều đoạt giải thưởng. Đặc biệt là hai mặt hàng “Ikat vân mây” và “thổ cẩm bông dâu” đều được bán rất chạy. Chị Se Mak cho rằng: “Bí quyết nằm ở khâu nhuộm và thiết kế hoa văn. Sở dĩ du khách thích thổ cẩm Phủm Xoài vì sản phẩm được sử dụng từ vỏ cây Pahud và nhựa cây Kalék để nhuộm sợi, làm màu thổ cẩm càng để lâu càng ánh bóng, không phai”.

Làng nghề thổ cẩm Phủm Xoài hiện đang hoạt động theo mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề và tiêu thụ sản phẩm. Nghề dệt của người Chăm nơi đây sẽ duy trì lâu bền và phát triển, và hình ảnh các cô gái Chăm nở nụ cười tươi thắm bên khung dệt sẽ còn mãi với thời gian.

Lưu ý: Có nhiều tuyến du lịch cho cả du khách trong và ngoài nước tham quan Châu Phong. Trong đó có tour mang tên Homestay (ở nhà người dân bản địa) với chương trình “Trở thành một người Chăm”. Du khách sẽ được ăn, ngủ tại nhà một người Chăm, sinh hoạt, thưởng thức âm nhạc của họ, thử vài thao tác dệt lụa và những điệu múa Chăm độc đáo…

Đặc biệt là phần ẩm thực cũng thu hút nhiều du khách bốn phương với các món ăn đậm nét truyền thống của người Chăm được chế biến từ thịt bò như: cà ri bò, lạp xưởng bò; gỏi sầu đâu với vị đắng rất riêng và các món bánh Chăm như: bánh tổ chim, bánh lỗ…

An Giang – một tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ có làng nghề truyền thống dệt thổ cẩm Chăm nổi tiếng tại ấp Phum Soài, xã Châu Phong, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang được rất nhiều người biết đến. Người địa phương gọi tên là Thổ cẩm Phủm Xoài.

Nơi đây được biết đến như một trong những địa phương còn lưu giữ đậm bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc Chăm ở Việt Nam. Ngoài nghề nông nghiệp và đánh bắt thủy sản, phần lớn người dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như dệt, thêu, đan…

Sản phẩm được làm ra là những chiếc khăn choàng tắm, sà rông đầy màu sắc, thổ cẩm tinh xảo, túi đeo nhỏ xinh và đặc biệt là những chiếc khăn bịt tóc đẹp mắt. Đây là một trong những địa phương còn lưu giữ được nghề truyền thống của đồng bào dân tộc Chăm.

Có một thời gian nghề dệt ở Phủm Xoài bị “chựng” lại do khó khăn trong khâu nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Một số hộ bỏ nghề dệt sang làm nghề khác. Làng dệt đứng trước nguy cơ bị thất truyền. Năm 1997, sau khi tìm hiểu nguyện vọng của bà con, Sở Công nghiệp tỉnh An Giang quyết định hỗ trợ khôi phục nghề dệt ở Phủm Xoài. Và Hợp tác xã (HTX) Dệt Châu Giang ra đời với 50 hội viên được nhận vốn vay hỗ trợ từ chương trình khuyến công của tỉnh.

Nhiều người bỏ nghề mua bán trở về với nghề dệt truyền thống. Những nghệ nhân lâu năm trong nghề tham gia cải tiến kỹ thuật sử dụng con thoi trong khung dệt thay vì quăng thoi bằng tay sang dùng bằng dây giật nên công đoạn dệt nhanh gấp 10 lần. No In, một cô gái 19 tuổi, sau khi học xong phổ thông, đã theo nghề truyền thống gia đình học may, đan, dệt thổ cẩm phục vụ cho du khách.

Cô nói: “Lương khởi điểm mỗi tháng chỉ hơn 1 triệu đồng, nhưng do sinh sống ở  quê nên cũng tạm đủ, nhưng quan trọng nhất là em được làm nghề mình yêu thích nhất và thấy thổ cẩm của người Chăm được du khách mua nhiều”. Gia  đình nghệ nhân Se Mak làm chủ 3 khung dệt trong HTX đã có thu nhập ổn định. Chị có 2 con trai đang học ở nước ngoài và cô con gái theo nghề dệt của mẹ.

Hiện nay, HTX sản xuất khoảng 160 chủng loại sản phẩm, doanh thu bình quân trên 100 triệu đồng/tháng, trong đó 65% được du khách đặt mua. Sản phẩm của HTX có mặt tại các nước Đông Nam Á, Ấn Độ, Mỹ, Nhật, Canada…

Trong 6 lần tham dự triển lãm “Hàng Việt Nam chất lượng cao”, thổ cẩm Phủm Xoài đều đoạt giải thưởng. Đặc biệt là hai mặt hàng “Ikat vân mây” và “thổ cẩm bông dâu” đều được bán rất chạy. Chị Se Mak cho rằng: “Bí quyết nằm ở khâu nhuộm và thiết kế hoa văn. Sở dĩ du khách thích thổ cẩm Phủm Xoài vì sản phẩm được sử dụng từ vỏ cây Pahud và nhựa cây Kalék để nhuộm sợi, làm màu thổ cẩm càng để lâu càng ánh bóng, không phai”.

Làng nghề thổ cẩm Phủm Xoài hiện đang hoạt động theo mô hình du lịch cộng đồng gắn với làng nghề và tiêu thụ sản phẩm. Nghề dệt của người Chăm nơi đây sẽ duy trì lâu bền và phát triển, và hình ảnh các cô gái Chăm nở nụ cười tươi thắm bên khung dệt sẽ còn mãi với thời gian.

Lưu ý: Có nhiều tuyến du lịch cho cả du khách trong và ngoài nước tham quan Châu Phong. Trong đó có tour mang tên Homestay (ở nhà người dân bản địa) với chương trình “Trở thành một người Chăm”. Du khách sẽ được ăn, ngủ tại nhà một người Chăm, sinh hoạt, thưởng thức âm nhạc của họ, thử vài thao tác dệt lụa và những điệu múa Chăm độc đáo…

Đặc biệt là phần ẩm thực cũng thu hút nhiều du khách bốn phương với các món ăn đậm nét truyền thống của người Chăm được chế biến từ thịt bò như: cà ri bò, lạp xưởng bò; gỏi sầu đâu với vị đắng rất riêng và các món bánh Chăm như: bánh tổ chim, bánh lỗ…

Ổi Đông Dư ven sông Hồng

(TTO) - Nói đến Bát Tràng, người ta thường nói đến thương hiệu gốm tồn tại từ bao đời nay, nhưng ít ai biết bên cạnh làng gốm truyền thống còn có thứ sản vật quý không đâu sánh bằng, đó là trái ổi Đông Dư.

< Những quán cóc bán ổi dọc bờ đê sông Hồng.

Có dịp đi ven đê sông Hồng, bạn sẽ được chiêm ngưỡng sự xanh tốt của những cây ổi được trồng bằng đất phù sa sông Hồng. Ở trong làng nhà nào cũng có một vườn ổi, ít thì 5-10 cây, nhiều thì có tới vài chục cây.

Ổi Đông Dư chính thức có từ năm 1961. Hồi đó có ông Tẻo, một người dân ở đây, mang cây ổi giống về trồng. Cây ổi hợp đất nên quả ăn rất ngon. Dần dà lan rộng, đến nay thương hiệu ổi Đông Dư đã được nhiều người biết đến và lan tỏa khắp các tỉnh miền Bắc.

Ổi Đông Dư quả to vừa phải, ăn giòn và ngọt, hạt ổi thì mềm, vỏ ổi lại không chát. Đây là loại ổi găng, được trồng ngoài bãi phù sa màu mỡ do thường xuyên được sông Hồng bồi đắp mỗi năm. Bởi ổi ngon có tiếng nên hầu như ai đi qua địa phận này như đường đê sông Hồng hay quốc lộ 1B đều dừng chân ghé mua về làm quà.

Có cơ hội được vào hẳn trong vườn ổi, bạn có thể thỏa thích hái ăn tùy thích mà không sợ chủ vườn mắng. Với họ, có được trái ổi ngon và trĩu quả như thế là do thiên nhiên ưu ái ban tặng, do may mắn mang lại và ai cũng muốn chia sẻ món quà tặng đó tới những ai biết quan tâm và trân trọng nó.

Trên đoạn đường đê xã Đông Dư (huyện Gia Lâm, Hà Nội), nơi ổi nhiều và ngon hơn cả, bạn sẽ thấy các quán cóc bán ổi, chỗ thì chỉ 1-2 người bán, chỗ thì cả dãy tới chục người bán. Ổi bán ở đây thường là ổi mới được trẩy ở nhà mang ra nên rất ngon khi ăn.

Ổi Đông Dư được chia thành hai vụ chính. Vụ mùa thường từ tháng 3 đến tháng 7 âm lịch. Còn lại gọi là ổi chiêm. Ổi mùa khác ổi chiêm ở chỗ quả có khía như chia thành múi. Còn lại mùi vị và độ ngon hầu như ít có sự khác biệt giữa hai vụ. Cây ổi từ lúc trồng cho đến khi được hái quả chừng mười năm phải đốn đi để trồng cây mới thì mới cho ổi ngon và năng suất cao.

Ổi ít khi mất mùa, ngược lại có năm được mùa bội thu. Năm nào thời tiết lạnh kéo dài, khi ấm trở lại ổi đơm trái đồng loạt nên cùng một lúc toàn bộ vườn ổi ở làng đều chín quả.

Nếu chỉ nhìn thoáng qua những lều quán lúp xúp trên triền đê sông Hồng với những thúng mủng bày biện ổi theo hình chóp nón hay những cọc ổi trên quốc lộ 1B (đoạn qua huyện Gia Lâm) ai cũng nhầm tưởng họ là những người nông dân vất vả mưu sinh. Nhưng tìm hiểu sâu mới biết phần lớn đều là những triệu phú chân đất theo đúng nghĩa.

Dẫn chúng tôi tới thăm vườn ổi với những chùm quả tròn căng, sai trĩu cành, chị Lan cho biết một sào ổi, khoảng 30-50 gốc, mỗi năm thu hoạch 1-1,2 tấn quả. Đầu vụ, ổi có giá 13.000-15.000 đồng/kg, chính vụ trung bình 7.000 đồng/kg, trừ các khoản chi phí mỗi năm, gia đình chị thu lãi 30-40 triệu đồng.

Cụ Sinh thường hay bán ổi ven triền đê sông Hồng nhà có tới vài ba trăm gốc ổi ngoài bãi sông và cánh đồng làng. Ngày ngày con cháu cụ đi trẩy ổi rồi đem ra cho cụ bán ở triền đê. Mỗi ngày cụ bán được 50-60kg ổi găng với giá 20.000 đồng/kg, cả gia đình thu nhập trên 1 triệu đồng.

Biết được đặc sản của vùng đất này, nhiều người ở nơi khác cũng tới đây mang giống ổi găng về địa phương mình trồng, nhưng dù có chăm sóc đến mức nào cũng không thể cho trái ổi ngon như trồng trên mảnh đất này. Có lẽ thiên nhiên đã ưu ái để không phải tình cờ trái ổi Đông Dư chỉ ngon khi được nuôi dưỡng từ đất mẹ phù sa sông Hồng.

Đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của khách, người Đông Dư ngày ngày chịu khó, không kể nắng mưa, đem thứ sản vật ngon, bổ mà thiên nhiên ban tặng đến cho mọi người.
Xem thêm >

Theo PTT (báo Tuổi Trẻ)
(TTO) - Nói đến Bát Tràng, người ta thường nói đến thương hiệu gốm tồn tại từ bao đời nay, nhưng ít ai biết bên cạnh làng gốm truyền thống còn có thứ sản vật quý không đâu sánh bằng, đó là trái ổi Đông Dư.

< Những quán cóc bán ổi dọc bờ đê sông Hồng.

Có dịp đi ven đê sông Hồng, bạn sẽ được chiêm ngưỡng sự xanh tốt của những cây ổi được trồng bằng đất phù sa sông Hồng. Ở trong làng nhà nào cũng có một vườn ổi, ít thì 5-10 cây, nhiều thì có tới vài chục cây.

Ổi Đông Dư chính thức có từ năm 1961. Hồi đó có ông Tẻo, một người dân ở đây, mang cây ổi giống về trồng. Cây ổi hợp đất nên quả ăn rất ngon. Dần dà lan rộng, đến nay thương hiệu ổi Đông Dư đã được nhiều người biết đến và lan tỏa khắp các tỉnh miền Bắc.

Ổi Đông Dư quả to vừa phải, ăn giòn và ngọt, hạt ổi thì mềm, vỏ ổi lại không chát. Đây là loại ổi găng, được trồng ngoài bãi phù sa màu mỡ do thường xuyên được sông Hồng bồi đắp mỗi năm. Bởi ổi ngon có tiếng nên hầu như ai đi qua địa phận này như đường đê sông Hồng hay quốc lộ 1B đều dừng chân ghé mua về làm quà.

Có cơ hội được vào hẳn trong vườn ổi, bạn có thể thỏa thích hái ăn tùy thích mà không sợ chủ vườn mắng. Với họ, có được trái ổi ngon và trĩu quả như thế là do thiên nhiên ưu ái ban tặng, do may mắn mang lại và ai cũng muốn chia sẻ món quà tặng đó tới những ai biết quan tâm và trân trọng nó.

Trên đoạn đường đê xã Đông Dư (huyện Gia Lâm, Hà Nội), nơi ổi nhiều và ngon hơn cả, bạn sẽ thấy các quán cóc bán ổi, chỗ thì chỉ 1-2 người bán, chỗ thì cả dãy tới chục người bán. Ổi bán ở đây thường là ổi mới được trẩy ở nhà mang ra nên rất ngon khi ăn.

Ổi Đông Dư được chia thành hai vụ chính. Vụ mùa thường từ tháng 3 đến tháng 7 âm lịch. Còn lại gọi là ổi chiêm. Ổi mùa khác ổi chiêm ở chỗ quả có khía như chia thành múi. Còn lại mùi vị và độ ngon hầu như ít có sự khác biệt giữa hai vụ. Cây ổi từ lúc trồng cho đến khi được hái quả chừng mười năm phải đốn đi để trồng cây mới thì mới cho ổi ngon và năng suất cao.

Ổi ít khi mất mùa, ngược lại có năm được mùa bội thu. Năm nào thời tiết lạnh kéo dài, khi ấm trở lại ổi đơm trái đồng loạt nên cùng một lúc toàn bộ vườn ổi ở làng đều chín quả.

Nếu chỉ nhìn thoáng qua những lều quán lúp xúp trên triền đê sông Hồng với những thúng mủng bày biện ổi theo hình chóp nón hay những cọc ổi trên quốc lộ 1B (đoạn qua huyện Gia Lâm) ai cũng nhầm tưởng họ là những người nông dân vất vả mưu sinh. Nhưng tìm hiểu sâu mới biết phần lớn đều là những triệu phú chân đất theo đúng nghĩa.

Dẫn chúng tôi tới thăm vườn ổi với những chùm quả tròn căng, sai trĩu cành, chị Lan cho biết một sào ổi, khoảng 30-50 gốc, mỗi năm thu hoạch 1-1,2 tấn quả. Đầu vụ, ổi có giá 13.000-15.000 đồng/kg, chính vụ trung bình 7.000 đồng/kg, trừ các khoản chi phí mỗi năm, gia đình chị thu lãi 30-40 triệu đồng.

Cụ Sinh thường hay bán ổi ven triền đê sông Hồng nhà có tới vài ba trăm gốc ổi ngoài bãi sông và cánh đồng làng. Ngày ngày con cháu cụ đi trẩy ổi rồi đem ra cho cụ bán ở triền đê. Mỗi ngày cụ bán được 50-60kg ổi găng với giá 20.000 đồng/kg, cả gia đình thu nhập trên 1 triệu đồng.

Biết được đặc sản của vùng đất này, nhiều người ở nơi khác cũng tới đây mang giống ổi găng về địa phương mình trồng, nhưng dù có chăm sóc đến mức nào cũng không thể cho trái ổi ngon như trồng trên mảnh đất này. Có lẽ thiên nhiên đã ưu ái để không phải tình cờ trái ổi Đông Dư chỉ ngon khi được nuôi dưỡng từ đất mẹ phù sa sông Hồng.

Đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của khách, người Đông Dư ngày ngày chịu khó, không kể nắng mưa, đem thứ sản vật ngon, bổ mà thiên nhiên ban tặng đến cho mọi người.
Xem thêm >

Theo PTT (báo Tuổi Trẻ)

Làng bánh tráng cù lao Mây

(TBKTSG) - Về đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến với những cù lao trên sông Hậu, du khách sẽ có cảm giác khám phá những điều mới lạ với nhiều truyền thuyết từ thời tiền nhân khai mở đất phương Nam. Cù lao Mây là một điểm đến hấp dẫn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

< Cù lao Mây giữa nhiều sông rạch chằng chịt.

Về ý nghĩa và nguồn gốc tên gọi cù lao Mây được người dân địa phương giải thích, do nơi đây cù lao nổi lên giữa bốn bề sông nước, trên mây phủ, nên dân gian từ xưa đặt tên là cù lao Mây.

< Bến phà từ chợ Trà Ôn sang cù lao Mây.

Khi hình thành địa giới hành chính, đất cù lao Mây thuộc xã Thạnh Mỹ Hưng. Xã có chiều dài 20 ki lô mét, ngang từ 800 - 2.500 mét, có nhiều cồn nổi lên bao bọc chung quanh, kênh rạch chằng chịt. Năm 1906-1908, người Pháp đào con kênh nối sông Trà Ôn với sông Mang Thít, tạo ra con đường thủy nối từ Cà Mau lên Sài Gòn đi ngang cù lao Mây.

Sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán nhà Nguyễn ghi: Vào những năm nửa sau của thế kỷ XVIII, trong khi bôn tẩu lánh nạn Tây Sơn, xuôi theo dòng sông Hậu, từ xa, Nguyễn Ánh nhìn thấy một dải đất trông giống như áng mây mờ xanh xanh, thấp thoáng, bềnh bồng trên mặt nước.

Khi đặt chân lên đất cù lao, ông nhận ra đây là nơi trú ẩn an toàn, quân Tây Sơn  khó lòng phát hiện. Nguyễn Ánh đặt tên cho cù lao này là Vân Châu (Cù lao Mây). Đến sau cách mạng tháng Tám, chính quyền lấy tên của một chiến sĩ cách mạng (*) đầu tiên hy sinh trên vùng đất cù lao này đặt tên xã Lục Sĩ Thành. Từ ấy, cù lao Mây có tên là cù lao Lục Sĩ Thành.

Có thể đến với cù lao Mây từ chợ Trà Ôn qua phà. Lên đất cù lao, du khách có thể đi xe đạp hoặc xe máy dạo quanh vùng đất phì nhiêu với những vườn cây ăn trái bạt ngàn. Ngoài những vườn sầu riêng nổi tiếng, du khách sẽ gặp những vườn bưởi, cam sành, chôm chôm, vú sữa... sai quả trĩu cành.

< Làng nghề bánh tráng cù lao Mây.

Đặc biệt, cù lao Mây nổi tiếng với sản phẩm bánh tráng. Du khách sẽ gặp nhiều hộ gia đình làm bánh tráng, chứng kiến sự cần cù, khéo tay của những người phụ nữ chân quê làm ra những chiếc bánh thơm, ngon cung cấp cho nhiều thị trường trong và ngoài nước.

Ngoài bánh tráng nem, bánh tráng nhúng, bánh tráng ngọt, gần đây, nhiều hộ làm bánh còn sáng chế ra nhiều loại bánh mới để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, như bánh tráng nướng dừa béo, bánh tráng nướng tôm khô, bánh tráng nem lá dứa, bánh tráng củ dền…

Khi mùa nước ở đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu rút. Làng nghề bánh tráng Lục Sĩ thành cũng rộn ràng vào vụ sản xuất hàng tết với không khí tất bật, náo nức, bởi đây là mùa mà sản phẩm bánh tráng mang thương hiệu Cù Lao Mây được xuất đi khắp nơi mang về nhiều lợi nhuận cho bà con.

Làng nghề bánh tráng trên cù lao Mây  ra đời có gần 70 năm nay. Hiện có trên 70 hộ làm nghề với hơn 200 lao động, mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng trăm tấn sản phẩm bánh các loại, một ngày bình quân một lò sản xuất được khoảng 500 bánh, riêng những ngày tết thì năng suất tăng cao gấp 2- 3 lần.

Khách hàng ưa chuộng bánh tráng cù lao Mây bởi hương vị đặc trưng, bánh khi ăn mềm dẻo, vị mặn vừa, gói với tôm, thịt, rau, bún, chấm nước mắm me hay tương xay ăn rất hấp dẫn, làm nên nét độc đáo của ẩm thực đồng bằng.

Cù Lao Mây còn có di tích văn hóa đình Hậu Thạnh được vua Tự Đức sắc phong Thành hoàng bổn cảnh năm 1852. Đình có nền cao, lợp ngói vẩy cá, bao gồm 3 phần: gian chính thờ Thành hoàng, gian kế gọi là Võ môn qui - nơi hội họp, gian cuối gọi là nhà Võ ca, hai bên có hai hàng gươm giáo gỗ, đây là nơi dùng để đàn ca, diễn xướng tuồng tích khi có lễ hội. Phía sau đình là nền Xã tắc thờ Thần Nông và cũng là nơi cúng hạ điền hàng năm.

Chung quanh đình rợp mát cây xanh, với các loại cổ thụ như dầu, sao, long não... có đến hàng trăm tuổi, xanh um, cao vút. Vào ngày 16 tháng Tư âm lịch hàng năm, lễ hội cúng đình Hậu Thạnh diễn ra rất trang nghiêm, long trọng. Có rất đông nhân dân và khách các nơi về tham quan, cúng bái, vui chơi, viếng cảnh trong không khí tưng bừng, náo nhiệt.

Chợ nổi Trà Ôn nằm giáp với cù lao Lục Sĩ Thành là nơi diễn ra sinh hoạt mua bán trên sông rất sinh động. Du khách, thương lái và người dân có thể mua được những sản phẩm, hàng hóa của vùng châu thổ sông Cửu Long như trái cây, lương thực, thủy hải sản của nhiều nơi mang đến. Chợ nổi ở Nam bộ là “hồn” của sông nước, đặc trưng độc đáo của cư dân đồng bằng.

< Chợ nổi Trà Ôn.

Không khí trong lành mát mẻ, sông nước hữu tình, cảnh quan thơ mộng với những người dân chân tình, mến khách của Cù lao Mây sẽ làm cho bạn nhớ mãi vùng đất nầy.

(*) Lục Sĩ Thành (? - 1946), liệt sĩ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào tháng 2-2010.
Xem thêm >

Theo Mai Lý (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn)
(TBKTSG) - Về đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đến với những cù lao trên sông Hậu, du khách sẽ có cảm giác khám phá những điều mới lạ với nhiều truyền thuyết từ thời tiền nhân khai mở đất phương Nam. Cù lao Mây là một điểm đến hấp dẫn ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

< Cù lao Mây giữa nhiều sông rạch chằng chịt.

Về ý nghĩa và nguồn gốc tên gọi cù lao Mây được người dân địa phương giải thích, do nơi đây cù lao nổi lên giữa bốn bề sông nước, trên mây phủ, nên dân gian từ xưa đặt tên là cù lao Mây.

< Bến phà từ chợ Trà Ôn sang cù lao Mây.

Khi hình thành địa giới hành chính, đất cù lao Mây thuộc xã Thạnh Mỹ Hưng. Xã có chiều dài 20 ki lô mét, ngang từ 800 - 2.500 mét, có nhiều cồn nổi lên bao bọc chung quanh, kênh rạch chằng chịt. Năm 1906-1908, người Pháp đào con kênh nối sông Trà Ôn với sông Mang Thít, tạo ra con đường thủy nối từ Cà Mau lên Sài Gòn đi ngang cù lao Mây.

Sách Đại Nam thực lục của Quốc sử quán nhà Nguyễn ghi: Vào những năm nửa sau của thế kỷ XVIII, trong khi bôn tẩu lánh nạn Tây Sơn, xuôi theo dòng sông Hậu, từ xa, Nguyễn Ánh nhìn thấy một dải đất trông giống như áng mây mờ xanh xanh, thấp thoáng, bềnh bồng trên mặt nước.

Khi đặt chân lên đất cù lao, ông nhận ra đây là nơi trú ẩn an toàn, quân Tây Sơn  khó lòng phát hiện. Nguyễn Ánh đặt tên cho cù lao này là Vân Châu (Cù lao Mây). Đến sau cách mạng tháng Tám, chính quyền lấy tên của một chiến sĩ cách mạng (*) đầu tiên hy sinh trên vùng đất cù lao này đặt tên xã Lục Sĩ Thành. Từ ấy, cù lao Mây có tên là cù lao Lục Sĩ Thành.

Có thể đến với cù lao Mây từ chợ Trà Ôn qua phà. Lên đất cù lao, du khách có thể đi xe đạp hoặc xe máy dạo quanh vùng đất phì nhiêu với những vườn cây ăn trái bạt ngàn. Ngoài những vườn sầu riêng nổi tiếng, du khách sẽ gặp những vườn bưởi, cam sành, chôm chôm, vú sữa... sai quả trĩu cành.

< Làng nghề bánh tráng cù lao Mây.

Đặc biệt, cù lao Mây nổi tiếng với sản phẩm bánh tráng. Du khách sẽ gặp nhiều hộ gia đình làm bánh tráng, chứng kiến sự cần cù, khéo tay của những người phụ nữ chân quê làm ra những chiếc bánh thơm, ngon cung cấp cho nhiều thị trường trong và ngoài nước.

Ngoài bánh tráng nem, bánh tráng nhúng, bánh tráng ngọt, gần đây, nhiều hộ làm bánh còn sáng chế ra nhiều loại bánh mới để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, như bánh tráng nướng dừa béo, bánh tráng nướng tôm khô, bánh tráng nem lá dứa, bánh tráng củ dền…

Khi mùa nước ở đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu rút. Làng nghề bánh tráng Lục Sĩ thành cũng rộn ràng vào vụ sản xuất hàng tết với không khí tất bật, náo nức, bởi đây là mùa mà sản phẩm bánh tráng mang thương hiệu Cù Lao Mây được xuất đi khắp nơi mang về nhiều lợi nhuận cho bà con.

Làng nghề bánh tráng trên cù lao Mây  ra đời có gần 70 năm nay. Hiện có trên 70 hộ làm nghề với hơn 200 lao động, mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng trăm tấn sản phẩm bánh các loại, một ngày bình quân một lò sản xuất được khoảng 500 bánh, riêng những ngày tết thì năng suất tăng cao gấp 2- 3 lần.

Khách hàng ưa chuộng bánh tráng cù lao Mây bởi hương vị đặc trưng, bánh khi ăn mềm dẻo, vị mặn vừa, gói với tôm, thịt, rau, bún, chấm nước mắm me hay tương xay ăn rất hấp dẫn, làm nên nét độc đáo của ẩm thực đồng bằng.

Cù Lao Mây còn có di tích văn hóa đình Hậu Thạnh được vua Tự Đức sắc phong Thành hoàng bổn cảnh năm 1852. Đình có nền cao, lợp ngói vẩy cá, bao gồm 3 phần: gian chính thờ Thành hoàng, gian kế gọi là Võ môn qui - nơi hội họp, gian cuối gọi là nhà Võ ca, hai bên có hai hàng gươm giáo gỗ, đây là nơi dùng để đàn ca, diễn xướng tuồng tích khi có lễ hội. Phía sau đình là nền Xã tắc thờ Thần Nông và cũng là nơi cúng hạ điền hàng năm.

Chung quanh đình rợp mát cây xanh, với các loại cổ thụ như dầu, sao, long não... có đến hàng trăm tuổi, xanh um, cao vút. Vào ngày 16 tháng Tư âm lịch hàng năm, lễ hội cúng đình Hậu Thạnh diễn ra rất trang nghiêm, long trọng. Có rất đông nhân dân và khách các nơi về tham quan, cúng bái, vui chơi, viếng cảnh trong không khí tưng bừng, náo nhiệt.

Chợ nổi Trà Ôn nằm giáp với cù lao Lục Sĩ Thành là nơi diễn ra sinh hoạt mua bán trên sông rất sinh động. Du khách, thương lái và người dân có thể mua được những sản phẩm, hàng hóa của vùng châu thổ sông Cửu Long như trái cây, lương thực, thủy hải sản của nhiều nơi mang đến. Chợ nổi ở Nam bộ là “hồn” của sông nước, đặc trưng độc đáo của cư dân đồng bằng.

< Chợ nổi Trà Ôn.

Không khí trong lành mát mẻ, sông nước hữu tình, cảnh quan thơ mộng với những người dân chân tình, mến khách của Cù lao Mây sẽ làm cho bạn nhớ mãi vùng đất nầy.

(*) Lục Sĩ Thành (? - 1946), liệt sĩ được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vào tháng 2-2010.
Xem thêm >

Theo Mai Lý (Thời Báo Kinh Tế Sàigòn)

Đoan Hùng: làng bưởi ven sông Lô

(SGTT) - Có một làng quê miền trung du thanh bình bên dòng sông Lô hiền hoà từ lâu nức tiếng cả nước về loại bưởi quý, chỉ nơi đây mới có. Đó là mảnh đất Đoan Hùng (Phú Thọ) mà mỗi khi nhắc đến, người ta đều nghĩ ngay tới đặc sản bưởi Đoan Hùng.

Bưởi Đoan Hùng có từ bao giờ và trở thành đặc sản từ khi nào không ai biết, kể cả những bậc cao niên trong các xóm làng. Và từ lâu, trong khắp các vườn nhà của dân Đoan Hùng đều trồng bưởi. Nhà trồng ít thì cũng dăm ba gốc lấy quả ăn, nhà trồng nhiều cũng phải đến vài hecta để bán.

Theo lời kể của người Đoan Hùng thì bưởi ở đây cũng gần giống với bưởi quê thông thường, nhưng do bưởi hợp thổ nhưỡng và chỉ có đất ở Đoan Hùng bưởi mới sinh trưởng tốt và cho quả ngọt.

Cây và quả bưởi Đoan Hùng không bóng bẩy như nhiều giống bưởi khác mà nó mộc mạc, chân chất như người quê trung du vậy. Cây bưởi Đoan Hùng không cao to như giống bưởi thường mà thấp là là mặt đất, người cao có thể với tay hái quả được.

Vỏ quả không nhẵn bóng mà vàng ươm một màu và không quá to, chỉ nhỉnh hơn bát nhỏ một chút. Vỏ bưởi mỏng, cùi bưởi không dày như nhiều giống bưởi khác. Múi bưởi đều chằn chặn, dài tựa như lược chải đầu, cong cong khum khum. Tôm bưởi căng mọng, mười tôm như mười nhưng không nhão.

Bưởi Đoan Hùng ngọt thanh, cái vị ngọt không quá ngắt. Người đi xa luôn có trong balô hay xách trên tay dăm ba quả làm quà, người qua đường có mấy ai là không dừng lại mua vài ba quả...

Những năm gần đây, UBND tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt quy hoạch với hàng ngàn hecta giống bưởi đặc sản ở các địa phương của huyện Đoan Hùng. Các vùng quê nổi tiếng về bưởi như bưởi Sửu ở xã Chí Đám, bưởi Bằng Luân, bưởi Khả Lĩnh, bưởi Yên Kiện…

Điều đặc biệt là mỗi vùng đất, bưởi có những đặc điểm riêng rất dễ nhận ra. Ví như, bưởi Bằng Luân có vỏ màu vàng hơi nâu, mùi thơm đặc trưng vị ngọt đậm không he đắng. Bưởi Sửu vỏ màu vàng xanh, mùi thơm mạnh đặc trưng, vị ngọt thanh không he đắng. Thời gian gần đây, người dân còn thành lập hợp tác xã kinh doanh bưởi nhằm bảo vệ thương hiệu bưởi Đoan Hùng không chỉ ở địa phương mà còn trong phạm vi cả nước.

Bưởi Đoan Hùng hôm nay đã mang lại nguồn thu nhập cao cho dân quê. Những tháng cuối năm, bưởi cho thu hoạch. Loại bưởi thường bán tại vườn hay cho khách đi đường với giá từ 20.000 – 30.000 đồng/quả. Còn loại bưởi Sửu ở Chí Đám bán vào dịp giáp tết, giá từ 60.000 – 70.000 đồng/quả. Có gia đình nhờ trồng và phát triển bưởi đặc sản đã có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Bưởi Đoan Hùng ngọt lành, lòng người đất bưởi thảo thơm. Đến với Đoan Hùng, vào các làng trong xã, hỏi thăm địa chỉ khu trồng bưởi, ai ai cũng niềm nở giới thiệu về bưởi đặc sản quê mình. Khi đến vườn bưởi, chủ nhà không tiếc bổ một đôi quả bày ra mời khách thưởng thức, nếu hài lòng mua vẫn chưa muộn. Hương vị bưởi và lòng người vùng ven sông Lô níu giữ những ai từng đặt chân lên miền quê trung du thanh bình này.
Xem thêm >

Theo Nguyễn Thế Lượng (Sàigòn Tiếp Thị)
(SGTT) - Có một làng quê miền trung du thanh bình bên dòng sông Lô hiền hoà từ lâu nức tiếng cả nước về loại bưởi quý, chỉ nơi đây mới có. Đó là mảnh đất Đoan Hùng (Phú Thọ) mà mỗi khi nhắc đến, người ta đều nghĩ ngay tới đặc sản bưởi Đoan Hùng.

Bưởi Đoan Hùng có từ bao giờ và trở thành đặc sản từ khi nào không ai biết, kể cả những bậc cao niên trong các xóm làng. Và từ lâu, trong khắp các vườn nhà của dân Đoan Hùng đều trồng bưởi. Nhà trồng ít thì cũng dăm ba gốc lấy quả ăn, nhà trồng nhiều cũng phải đến vài hecta để bán.

Theo lời kể của người Đoan Hùng thì bưởi ở đây cũng gần giống với bưởi quê thông thường, nhưng do bưởi hợp thổ nhưỡng và chỉ có đất ở Đoan Hùng bưởi mới sinh trưởng tốt và cho quả ngọt.

Cây và quả bưởi Đoan Hùng không bóng bẩy như nhiều giống bưởi khác mà nó mộc mạc, chân chất như người quê trung du vậy. Cây bưởi Đoan Hùng không cao to như giống bưởi thường mà thấp là là mặt đất, người cao có thể với tay hái quả được.

Vỏ quả không nhẵn bóng mà vàng ươm một màu và không quá to, chỉ nhỉnh hơn bát nhỏ một chút. Vỏ bưởi mỏng, cùi bưởi không dày như nhiều giống bưởi khác. Múi bưởi đều chằn chặn, dài tựa như lược chải đầu, cong cong khum khum. Tôm bưởi căng mọng, mười tôm như mười nhưng không nhão.

Bưởi Đoan Hùng ngọt thanh, cái vị ngọt không quá ngắt. Người đi xa luôn có trong balô hay xách trên tay dăm ba quả làm quà, người qua đường có mấy ai là không dừng lại mua vài ba quả...

Những năm gần đây, UBND tỉnh Phú Thọ đã phê duyệt quy hoạch với hàng ngàn hecta giống bưởi đặc sản ở các địa phương của huyện Đoan Hùng. Các vùng quê nổi tiếng về bưởi như bưởi Sửu ở xã Chí Đám, bưởi Bằng Luân, bưởi Khả Lĩnh, bưởi Yên Kiện…

Điều đặc biệt là mỗi vùng đất, bưởi có những đặc điểm riêng rất dễ nhận ra. Ví như, bưởi Bằng Luân có vỏ màu vàng hơi nâu, mùi thơm đặc trưng vị ngọt đậm không he đắng. Bưởi Sửu vỏ màu vàng xanh, mùi thơm mạnh đặc trưng, vị ngọt thanh không he đắng. Thời gian gần đây, người dân còn thành lập hợp tác xã kinh doanh bưởi nhằm bảo vệ thương hiệu bưởi Đoan Hùng không chỉ ở địa phương mà còn trong phạm vi cả nước.

Bưởi Đoan Hùng hôm nay đã mang lại nguồn thu nhập cao cho dân quê. Những tháng cuối năm, bưởi cho thu hoạch. Loại bưởi thường bán tại vườn hay cho khách đi đường với giá từ 20.000 – 30.000 đồng/quả. Còn loại bưởi Sửu ở Chí Đám bán vào dịp giáp tết, giá từ 60.000 – 70.000 đồng/quả. Có gia đình nhờ trồng và phát triển bưởi đặc sản đã có thu nhập hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Bưởi Đoan Hùng ngọt lành, lòng người đất bưởi thảo thơm. Đến với Đoan Hùng, vào các làng trong xã, hỏi thăm địa chỉ khu trồng bưởi, ai ai cũng niềm nở giới thiệu về bưởi đặc sản quê mình. Khi đến vườn bưởi, chủ nhà không tiếc bổ một đôi quả bày ra mời khách thưởng thức, nếu hài lòng mua vẫn chưa muộn. Hương vị bưởi và lòng người vùng ven sông Lô níu giữ những ai từng đặt chân lên miền quê trung du thanh bình này.
Xem thêm >

Theo Nguyễn Thế Lượng (Sàigòn Tiếp Thị)

Đến Quảng Ngãi ăn don sông Trà

(Báo Vĩnh Long) - Dọc theo Quốc lộ 1A, ngang qua thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, người đi đường dễ dàng bắt gặp rất nhiều quán nhỏ ven đường có bảng “don”. Thử một lần dừng chân ghé quán, chắc hẳn thực khách không thể nào quên được cái vị ngọt dịu, thanh mát từ những con don bé xíu nơi hạ nguồn sông Trà.

< Don là món ăn dân dã, đậm đà phong vị quê hương, ngon miệng.

Don thuộc họ nhà hến, thân bọc bằng hai nửa vỏ úp nhau tựa hình hột xoài. Nếu hến ở môi trường nước ngọt thì don sinh sôi nảy nở nhiều nhất ở môi trường nước lợ (nơi tiếp giáp giữa sông và biển).

< Dụng cụ cào don nặng hơn 10 kg, gồm một cán tre dài 2,5 m, thùng cào dài 1 m. Dụng cụ cào được gắn với dây đeo vào ngang hông, người cào một tay cầm cán tre, tay còn lại tì thắt lưng lấy thế đi giật lùi.

Thường bắt đầu tháng 4, tháng 5, khi mùa khô hạn đã đến, người dân quanh con sông Trà lại vào mùa cào don. Người ta thường đi cào don vào lúc nước ròng tức lúc con nước đang xuống. Vì sống vùi mình dưới cát nên công việc cào don có vẻ như khó hơn xúc hến. Hôm gặp nước lớn phải ngâm hàng giờ trong nước mới đủ lượng don cho buổi chợ ngày mai.

Don thường lẫn nhiều sỏi, rác nên sau khi bắt về, phải tỉ mỉ rửa nhiều lần, đem ngâm cho nhả hết bùn cát rồi mới cho vào nồi luộc đang nghi ngút khói, gặp nóng đột ngột don sẽ tách hết vỏ, nở bung ra, đảo vài lượt cho don rời khỏi vỏ, sau đó đãi ra lấy ruột (thịt don).

Những con don thân chỉ bằng đầu mút đũa ấy vậy mà chế biến rất nhiều món ngon. Phổ biến nhất là món canh don. Trước khi nấu, phải chuẩn bị các phụ gia không thể thiếu là ớt, một ít hành lá, tiêu rừng và bánh tráng nướng. Người ta dùng nước luộc don chắt lấy phần nước trong, bắc lên bếp đun lại cho nước sôi già, cho ruột don mới đãi vào, đợi nồi canh sôi lại nêm gia vị vừa ăn, sau đó mới thả rau thơm đã được cắt nhỏ vào là có một nồi canh don ngọt ngào, mát lành.

Cũng có thể chế biến món don xào, rất đơn giản nhưng lại khá ngon. Khử dầu chín, cho don vào xào đến khi thấy don săn lại, nổ lách tách trong chảo thì nêm nước mắm ngọt, thêm tiêu, ớt chín, một ít hành tây rồi tắt bếp.

Món này nhâm nhi với rượu chắc chắn thực khách sẽ cứ xuýt xoa khen ngon hoài. Nhưng có lẽ độc đáo nhất là món cháo don. Vo một nhúm gạo, nấu cùng với nước luộc don đến khi gạo chín nhuyễn, cho thêm một ít gừng tươi rồi nhắc xuống. Cháo don vừa ngọt, thanh, dậy lên hương thơm quyến rũ, ấm nóng của các loại gia vị như hành, sả, tiêu là món ăn thích hợp cho cả người lớn và trẻ nhỏ.

Những ai đã từng một lần dừng chân bên con sông Trà, được thưởng thức các món từ don mới cảm nhận hết hương vị mặn mòi tình sông nước nơi đây.
Xem thêm >

Theo THANH LY (Vĩnh Long Online)


Hít hà...Don!
(Báo Vĩnh Long) - Dọc theo Quốc lộ 1A, ngang qua thị trấn Châu Ổ, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, người đi đường dễ dàng bắt gặp rất nhiều quán nhỏ ven đường có bảng “don”. Thử một lần dừng chân ghé quán, chắc hẳn thực khách không thể nào quên được cái vị ngọt dịu, thanh mát từ những con don bé xíu nơi hạ nguồn sông Trà.

< Don là món ăn dân dã, đậm đà phong vị quê hương, ngon miệng.

Don thuộc họ nhà hến, thân bọc bằng hai nửa vỏ úp nhau tựa hình hột xoài. Nếu hến ở môi trường nước ngọt thì don sinh sôi nảy nở nhiều nhất ở môi trường nước lợ (nơi tiếp giáp giữa sông và biển).

< Dụng cụ cào don nặng hơn 10 kg, gồm một cán tre dài 2,5 m, thùng cào dài 1 m. Dụng cụ cào được gắn với dây đeo vào ngang hông, người cào một tay cầm cán tre, tay còn lại tì thắt lưng lấy thế đi giật lùi.

Thường bắt đầu tháng 4, tháng 5, khi mùa khô hạn đã đến, người dân quanh con sông Trà lại vào mùa cào don. Người ta thường đi cào don vào lúc nước ròng tức lúc con nước đang xuống. Vì sống vùi mình dưới cát nên công việc cào don có vẻ như khó hơn xúc hến. Hôm gặp nước lớn phải ngâm hàng giờ trong nước mới đủ lượng don cho buổi chợ ngày mai.

Don thường lẫn nhiều sỏi, rác nên sau khi bắt về, phải tỉ mỉ rửa nhiều lần, đem ngâm cho nhả hết bùn cát rồi mới cho vào nồi luộc đang nghi ngút khói, gặp nóng đột ngột don sẽ tách hết vỏ, nở bung ra, đảo vài lượt cho don rời khỏi vỏ, sau đó đãi ra lấy ruột (thịt don).

Những con don thân chỉ bằng đầu mút đũa ấy vậy mà chế biến rất nhiều món ngon. Phổ biến nhất là món canh don. Trước khi nấu, phải chuẩn bị các phụ gia không thể thiếu là ớt, một ít hành lá, tiêu rừng và bánh tráng nướng. Người ta dùng nước luộc don chắt lấy phần nước trong, bắc lên bếp đun lại cho nước sôi già, cho ruột don mới đãi vào, đợi nồi canh sôi lại nêm gia vị vừa ăn, sau đó mới thả rau thơm đã được cắt nhỏ vào là có một nồi canh don ngọt ngào, mát lành.

Cũng có thể chế biến món don xào, rất đơn giản nhưng lại khá ngon. Khử dầu chín, cho don vào xào đến khi thấy don săn lại, nổ lách tách trong chảo thì nêm nước mắm ngọt, thêm tiêu, ớt chín, một ít hành tây rồi tắt bếp.

Món này nhâm nhi với rượu chắc chắn thực khách sẽ cứ xuýt xoa khen ngon hoài. Nhưng có lẽ độc đáo nhất là món cháo don. Vo một nhúm gạo, nấu cùng với nước luộc don đến khi gạo chín nhuyễn, cho thêm một ít gừng tươi rồi nhắc xuống. Cháo don vừa ngọt, thanh, dậy lên hương thơm quyến rũ, ấm nóng của các loại gia vị như hành, sả, tiêu là món ăn thích hợp cho cả người lớn và trẻ nhỏ.

Những ai đã từng một lần dừng chân bên con sông Trà, được thưởng thức các món từ don mới cảm nhận hết hương vị mặn mòi tình sông nước nơi đây.
Xem thêm >

Theo THANH LY (Vĩnh Long Online)


Hít hà...Don!

Về thăm nơi xuất xứ nón bài thơ

Làng Tây Hồ là nơi sản sinh ra chiếc nón bài thơ - một vật dụng được xem là mang cả vẻ đẹp của tâm hồn Huế. Đến bây giờ, người dân Tây Hồ không còn ai nhớ nghề làm nón lá xuất hiện ở làng mình từ bao giờ, chỉ biết rằng trải qua bao sự thăng trầm của lịch sử, họ vẫn dựa vào nghề này để mưu sinh.

Nằm bên dòng sông Như Ý, làng Tây Hồ (xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế) từ lâu đã nổi tiếng với nghề chằm nón lá truyền thống. Nghề chằm nón lá đã hình thành cách đây hàng trăm năm và nón bài thơ – một nét đặc trưng của Huế cũng xuất phát từ làng nón Tây Hồ (vùng đất đã từng nổi danh có nhiều cô gái xinh đẹp, làm say đắm biết bao chàng trai trong vùng).

“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Chiếc nón bài thơ ra đời ở Tây Hồ như một sự tình cờ: Đó là vào khoảng năm 1959 - 1960, ông Bùi Quang Bặc - một nghệ nhân chằm nón lá, cũng là một người yêu thơ phú trong làng đã có sáng kiến làm nên nón bài thơ bằng cách, ép những câu thơ vào giữa hai lớp lá, tôn vinh thêm vẻ đẹp của chiếc nón (lúc đó, nón lá ở Huế chủ yếu được bán vào thị trường của các tỉnh phía nam).

Hai câu thơ đầu tiên được ông Bặc ép vào chiếc nón là:
“Ai ra xứ Huế mộng mơ
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”.

Con gái làng Tây Hồ chừng mười tuổi thì đã tự học chằm nón và có người suốt đời chỉ theo nghề chằm nón. Còn đàn ông, ngoài việc đồng áng, họ cũng phụ giúp phụ nữ làm công việc ủi lá hay chẻ tre để làm vành nón.

Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì nức vành và ủi lá. Để có được lá đẹp, người thợ thường chọn lá nón vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.

Khi xây và lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Khâu (chằm) nón là công đoạn quyết định đến sự hình thành và vẻ đẹp của cả chiếc nón. Người thợ sẽ khâu từ trên xuống đến vành 15, cứ 1 cm 3 mũi cước trong suốt. Vành cuối cùng khâu cước trắng, 2 mũi kim cách nhau 2 cm. Đường chằm phải mềm mại, thanh nhẹ, dịu dàng.

Khi nón chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên, sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền. Điều làm nên nét đặc biệt nhất của nón lá Tây Hồ so với sản phẩm cùng loại của nhiều làng nón khác ở xứ Huế chính là dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn và đặc biệt nhất là những bài thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế được cài trong chiếc nón.

Ban đầu, nón bài thơ được người dân Tây Hồ làm để tặng người thân, không ngờ lại được mọi người yêu thích. Từ đó, những người làm nón ở Tây Hồ bắt đầu làm nón bài thơ hàng loạt, đưa ra bán ở thị trường. Những câu thơ được ép vào nón cũng đa dạng và phong phú hơn, thường là những câu thơ về Huế.

Ngoài ra để làm đẹp thêm cho chiếc nón người ta còn ép vào đấy những bức tranh về sông Hương, núi Ngự cạnh bài thơ. Trải qua một thời gian khá dài, chiếc nón bài thơ là sản phẩm độc quyền của làng nón Tây Hồ. Rồi theo lẽ thường tình, những cô gái làng Tây Hồ đi lấy chồng về các miền quê khác, họ mang theo nghề nón lá truyền thống của mình và nghề làm nón bài thơ được lan truyền rộng rãi khắp các miền quê.

Từ Tây Hồ, những chiếc nón bài thơ toả đi khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của mỗi phụ nữ Huế. Chỉ với nguyên liệu đơn giản của lá dừa, lá gồi, những chiếc nón bài thơ vẫn trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ.

Với nhiều người, lựa nón, lựa quai cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong cái nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề. Những gương mặt trẻ trung ẩn hiện sau vành nón sáng lấp loá đã trở thành một ấn tượng rất Huế, rất Việt Nam.

Nón lá - nét duyên xứ Huế
Nón lá Việt Nam

Theo Website Du lịch Huế (không tìm ra link nguồn)
Làng Tây Hồ là nơi sản sinh ra chiếc nón bài thơ - một vật dụng được xem là mang cả vẻ đẹp của tâm hồn Huế. Đến bây giờ, người dân Tây Hồ không còn ai nhớ nghề làm nón lá xuất hiện ở làng mình từ bao giờ, chỉ biết rằng trải qua bao sự thăng trầm của lịch sử, họ vẫn dựa vào nghề này để mưu sinh.

Nằm bên dòng sông Như Ý, làng Tây Hồ (xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế) từ lâu đã nổi tiếng với nghề chằm nón lá truyền thống. Nghề chằm nón lá đã hình thành cách đây hàng trăm năm và nón bài thơ – một nét đặc trưng của Huế cũng xuất phát từ làng nón Tây Hồ (vùng đất đã từng nổi danh có nhiều cô gái xinh đẹp, làm say đắm biết bao chàng trai trong vùng).

“Sao anh không về thăm quê em
Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên
Bàn tay xây lá, tay xuyên nón
Mười sáu vành, mười sáu trăng lên”

Chiếc nón bài thơ ra đời ở Tây Hồ như một sự tình cờ: Đó là vào khoảng năm 1959 - 1960, ông Bùi Quang Bặc - một nghệ nhân chằm nón lá, cũng là một người yêu thơ phú trong làng đã có sáng kiến làm nên nón bài thơ bằng cách, ép những câu thơ vào giữa hai lớp lá, tôn vinh thêm vẻ đẹp của chiếc nón (lúc đó, nón lá ở Huế chủ yếu được bán vào thị trường của các tỉnh phía nam).

Hai câu thơ đầu tiên được ông Bặc ép vào chiếc nón là:
“Ai ra xứ Huế mộng mơ
Mua về chiếc nón bài thơ làm quà”.

Con gái làng Tây Hồ chừng mười tuổi thì đã tự học chằm nón và có người suốt đời chỉ theo nghề chằm nón. Còn đàn ông, ngoài việc đồng áng, họ cũng phụ giúp phụ nữ làm công việc ủi lá hay chẻ tre để làm vành nón.

Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì nức vành và ủi lá. Để có được lá đẹp, người thợ thường chọn lá nón vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng.

Khi xây và lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Khâu (chằm) nón là công đoạn quyết định đến sự hình thành và vẻ đẹp của cả chiếc nón. Người thợ sẽ khâu từ trên xuống đến vành 15, cứ 1 cm 3 mũi cước trong suốt. Vành cuối cùng khâu cước trắng, 2 mũi kim cách nhau 2 cm. Đường chằm phải mềm mại, thanh nhẹ, dịu dàng.

Khi nón chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên, sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền. Điều làm nên nét đặc biệt nhất của nón lá Tây Hồ so với sản phẩm cùng loại của nhiều làng nón khác ở xứ Huế chính là dáng thanh mảnh, độ mỏng, màu nón nhã nhặn và đặc biệt nhất là những bài thơ chất chứa tâm hồn xứ Huế được cài trong chiếc nón.

Ban đầu, nón bài thơ được người dân Tây Hồ làm để tặng người thân, không ngờ lại được mọi người yêu thích. Từ đó, những người làm nón ở Tây Hồ bắt đầu làm nón bài thơ hàng loạt, đưa ra bán ở thị trường. Những câu thơ được ép vào nón cũng đa dạng và phong phú hơn, thường là những câu thơ về Huế.

Ngoài ra để làm đẹp thêm cho chiếc nón người ta còn ép vào đấy những bức tranh về sông Hương, núi Ngự cạnh bài thơ. Trải qua một thời gian khá dài, chiếc nón bài thơ là sản phẩm độc quyền của làng nón Tây Hồ. Rồi theo lẽ thường tình, những cô gái làng Tây Hồ đi lấy chồng về các miền quê khác, họ mang theo nghề nón lá truyền thống của mình và nghề làm nón bài thơ được lan truyền rộng rãi khắp các miền quê.

Từ Tây Hồ, những chiếc nón bài thơ toả đi khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của mỗi phụ nữ Huế. Chỉ với nguyên liệu đơn giản của lá dừa, lá gồi, những chiếc nón bài thơ vẫn trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ.

Với nhiều người, lựa nón, lựa quai cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong cái nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề. Những gương mặt trẻ trung ẩn hiện sau vành nón sáng lấp loá đã trở thành một ấn tượng rất Huế, rất Việt Nam.

Nón lá - nét duyên xứ Huế
Nón lá Việt Nam

Theo Website Du lịch Huế (không tìm ra link nguồn)

"Săn cu ly" ở miền Tây xứ Nghệ

"Săn" cây cu ly là một nghề rất lâu đời của các đồng bào dân tộc ở miền Tây tỉnh Nghệ An. Để lấy được cu ly không phải đơn giản, người ta phải trèo đèo lội suối vào trong rừng sâu mới có được tinh hoa của rừng.

< Cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn là "thợ săn cu ly".

Theo Đông y, do cây cu ly có lớp lông vàng bọc ngoài nên nó còn được gọi là kim mao cẩu tích, cây lông khỉ, cây lông cu li. Cây thuộc họ dương xỉ, là vị thuốc chuyên trị đau lưng, gân xương nhức mỏi. Chúng chỉ mọc nhiều và phát triển được trên những đỉnh núi có độ cao.

Nghề truyền kiếp

Khẳng định nghề "săn cu ly" là nghề truyền kiếp của đồng bào các dân tộc miền Tây xứ Nghệ quả là không ngoa. Khi chúng tôi đến huyện Kỳ Sơn, những đoàn người kéo nhau lên núi để lấy cây cu ly đông như đi hội. Họ tụ họp nhau dưới những chân núi cao rồi chia nhau theo nhóm từ 2 - 5 người vào tận rừng sâu để tìm cho ra những cây cu lu già đem về thị trấn bán cho đầu mối thu mua lâm sản.

Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là cụ Cụt Văn Tuất, người dân tộc Khơ Mú ở xã Nậm Cắn. Cụ Tuất năm nay đã ở tuổi 86, chân tay đã yếu nên run rẩy lắm, vì thế cụ không còn đủ sức đi lấy cây cu ly về bán như mọi năm. Gia đình cụ bây giờ, có tất cả 7 người rủ nhau lên núi, trong đó cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn còn sức khoẻ để dẫn đầu đoàn con cháu đi "săn cu ly".

< Cu ly được một hộ dân thu mua.

Cụ Tuất kể: "Thời còn nhỏ, tôi đã cùng bố mẹ lên núi lấy cây cu ly rồi. Hồi ấy không phải tìm cu ly bán mà chỉ để làm thuốc, cùng lắm là chuyển xuống tỉnh lỵ bán rẻ cho các thầy lang. Nhưng bây giờ lại khác, cu ly có giá nên ai cũng đi tìm kiếm cho bằng được".

Ở huyện biên giới Kỳ Sơn, ngoài Nậm Cắn, cây cu ly còn phân bố rất đa dạng ở các đỉnh núi cao thuộc các xã Mường Lống, Huổi Tụ và Na Loi. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ sức khoẻ để theo nghề "săn cu ly", mà nếu đủ sức cũng chưa chắc đã lấy được cây cu ly về. Vì thế, theo những "thợ săn" có tiếng ở Kỳ Sơn, để lấy được cây cu ly cần thiết phải có hai yếu tố: Sức khoẻ và kinh nghiệm.

Vượt núi tìm cu ly

< Mỗi ngày, "thợ săn cu ly" có thể kiếm được vài chục nghìn đồng.

Theo ông Lầu Tồng Pó, Chủ tịch UBND xã Nậm Càn: "Thợ "săn cu ly" cực nhọc lắm chứ không giản đơn như nhiều người vẫn nghĩ đâu. Ngoài những cây cu ly mọc ven rừng thì phần lớn cu ly sống trên những đỉnh núi có độ ẩm cao. Để lấy được cu ly, người ta phải cơm nắm cơm gói cả mấy ngày trời mới lấy được vài chục cân cu ly".

Trước đây, khi đang là cán bộ bản, ông Pó cũng là một thợ săn cu ly chuyên nghiệp. Vốn là người dân tộc Mông, lại leo rừng giỏi nên ông Pó cùng một nhóm thanh niên trong bản đi săn cu ly. Chỉ 3 ngày sau, nhóm của ông trở về với trên nửa tấn cu ly. Tuy nhiên, theo ông Pó, trước đây cây cu ly không có giá nên số tiền thu được chỉ đủ để anh em nhậu nhẹt vài bữa. Chứ như bây giờ, thì cu ly lại trở thành "vàng mười" của đất trời Kỳ Sơn.

Cu ly lên giá đã kéo theo rất nhiều người ở huyện Kỳ Sơn đua nhau lên núi "săn cu ly". Mùa thu hoạch cu ly chính thức từ sau Tết Nguyên đán, tuy nhiên lúc ấy cu ly còn non nên rất hiếm có người nào kỳ công lên núi hái lượm. Đến tháng 6 dương lịch, khi cây cu ly đã già và lớp lông màu vàng mịn đã phủ kín thân cây mới là thời điểm thích hợp để các thợ săn trổ tài.

Anh Lô Văn Hiếu ở xã Na Loi dẫn đầu một nhóm bốn người, tất cả đều đeo gùi trên lưng và mang theo dao phát rẫy. Anh Hiếu cho biết: "Lấy cây cu ly không khó, nhưng tìm vị trí cây cu ly sống mới kỳ công. Chúng tôi trèo đèo lội suối suốt cả ngày mà cũng chỉ lấy được trên 100kg cu ly mà thôi".

Cũng theo anh Hiếu, có ngày chỉ lấy được vài cây nhưng có ngày lại bắt gặp cả rừng cu ly, phải huy động tất cả anh em bạn bè lên núi gồng gánh cu ly về thị trấn Mường Xén để bán. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho nghề "săn cu ly" cũng không phải là rẻ, đã có rất nhiều thợ săn bị ngã núi hoặc bị rắn độc cắn. Tuy nhiên, cho đến nay các địa phương chưa có bất cứ một thống kê chính xác nào về hệ luỵ của công việc này.

"Kim mao cẩu tích" sẽ hiếm dần

Theo ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn: "Cu ly còn được gọi là kim mao cẩu tích,cây lông khỉ, cù liền, cù lần... là một trong những thảo dược quý. Tuy nhiên, chúng tôi không thể xử lý người khai thác cây cu ly vì một lý do rất đơn giản, cu ly là một loại lâm sản ngoài gỗ, không nằm trong danh mục quý hiếm cần bảo vệ".

< Cảnh ở một điểm thu mua cây lông cu li trên tỉnh lộ 520.

Cũng theo khảo sát của ông Minh, hiện ở huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) gần như rất khó để tìm được cây cu ly. Tình trạng khai thác quá nhiều đã dẫn đến sự cạn kiệt loài cây này. Giá cu ly ở Kỳ Sơn luôn dao động từ 2.000 - 3.000đ/kg, mà có khi một cây cu ly lớn đã nặng vài kg. Vì thế, ở một huyện nghèo tốp đầu cả nước như Kỳ Sơn thì việc người dân kiếm được vài chục nghìn mỗi ngày không chỉ là niềm vui, mà còn là kỳ tích.

Theo ông Nguyễn Quốc Minh (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Kỳ Sơn): Cây cu ly mọc rễ từ gốc lan ra xung quanh, những người "săn cu ly" phải hì hụi đào xuống rồi cắt lấy phần lông của cu ly. Ngày cao điểm, lái buôn ở thị trấn Mường Xén thu được cả chục tấn cu ly. Thậm chí, ở Kỳ Sơn còn hình thành những đầu mối thu mua cu ly cực lớn từ bên Lào về Việt Nam.
Tuy nhiên, mặt trái của niềm vui và kỳ tích ấy chính là sự cạn kiệt của cu ly.

- Theo Kiến Thức, internet
"Săn" cây cu ly là một nghề rất lâu đời của các đồng bào dân tộc ở miền Tây tỉnh Nghệ An. Để lấy được cu ly không phải đơn giản, người ta phải trèo đèo lội suối vào trong rừng sâu mới có được tinh hoa của rừng.

< Cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn là "thợ săn cu ly".

Theo Đông y, do cây cu ly có lớp lông vàng bọc ngoài nên nó còn được gọi là kim mao cẩu tích, cây lông khỉ, cây lông cu li. Cây thuộc họ dương xỉ, là vị thuốc chuyên trị đau lưng, gân xương nhức mỏi. Chúng chỉ mọc nhiều và phát triển được trên những đỉnh núi có độ cao.

Nghề truyền kiếp

Khẳng định nghề "săn cu ly" là nghề truyền kiếp của đồng bào các dân tộc miền Tây xứ Nghệ quả là không ngoa. Khi chúng tôi đến huyện Kỳ Sơn, những đoàn người kéo nhau lên núi để lấy cây cu ly đông như đi hội. Họ tụ họp nhau dưới những chân núi cao rồi chia nhau theo nhóm từ 2 - 5 người vào tận rừng sâu để tìm cho ra những cây cu lu già đem về thị trấn bán cho đầu mối thu mua lâm sản.

Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là cụ Cụt Văn Tuất, người dân tộc Khơ Mú ở xã Nậm Cắn. Cụ Tuất năm nay đã ở tuổi 86, chân tay đã yếu nên run rẩy lắm, vì thế cụ không còn đủ sức đi lấy cây cu ly về bán như mọi năm. Gia đình cụ bây giờ, có tất cả 7 người rủ nhau lên núi, trong đó cụ bà Cụt Thị Tỵ đã 80 tuổi nhưng vẫn còn sức khoẻ để dẫn đầu đoàn con cháu đi "săn cu ly".

< Cu ly được một hộ dân thu mua.

Cụ Tuất kể: "Thời còn nhỏ, tôi đã cùng bố mẹ lên núi lấy cây cu ly rồi. Hồi ấy không phải tìm cu ly bán mà chỉ để làm thuốc, cùng lắm là chuyển xuống tỉnh lỵ bán rẻ cho các thầy lang. Nhưng bây giờ lại khác, cu ly có giá nên ai cũng đi tìm kiếm cho bằng được".

Ở huyện biên giới Kỳ Sơn, ngoài Nậm Cắn, cây cu ly còn phân bố rất đa dạng ở các đỉnh núi cao thuộc các xã Mường Lống, Huổi Tụ và Na Loi. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ sức khoẻ để theo nghề "săn cu ly", mà nếu đủ sức cũng chưa chắc đã lấy được cây cu ly về. Vì thế, theo những "thợ săn" có tiếng ở Kỳ Sơn, để lấy được cây cu ly cần thiết phải có hai yếu tố: Sức khoẻ và kinh nghiệm.

Vượt núi tìm cu ly

< Mỗi ngày, "thợ săn cu ly" có thể kiếm được vài chục nghìn đồng.

Theo ông Lầu Tồng Pó, Chủ tịch UBND xã Nậm Càn: "Thợ "săn cu ly" cực nhọc lắm chứ không giản đơn như nhiều người vẫn nghĩ đâu. Ngoài những cây cu ly mọc ven rừng thì phần lớn cu ly sống trên những đỉnh núi có độ ẩm cao. Để lấy được cu ly, người ta phải cơm nắm cơm gói cả mấy ngày trời mới lấy được vài chục cân cu ly".

Trước đây, khi đang là cán bộ bản, ông Pó cũng là một thợ săn cu ly chuyên nghiệp. Vốn là người dân tộc Mông, lại leo rừng giỏi nên ông Pó cùng một nhóm thanh niên trong bản đi săn cu ly. Chỉ 3 ngày sau, nhóm của ông trở về với trên nửa tấn cu ly. Tuy nhiên, theo ông Pó, trước đây cây cu ly không có giá nên số tiền thu được chỉ đủ để anh em nhậu nhẹt vài bữa. Chứ như bây giờ, thì cu ly lại trở thành "vàng mười" của đất trời Kỳ Sơn.

Cu ly lên giá đã kéo theo rất nhiều người ở huyện Kỳ Sơn đua nhau lên núi "săn cu ly". Mùa thu hoạch cu ly chính thức từ sau Tết Nguyên đán, tuy nhiên lúc ấy cu ly còn non nên rất hiếm có người nào kỳ công lên núi hái lượm. Đến tháng 6 dương lịch, khi cây cu ly đã già và lớp lông màu vàng mịn đã phủ kín thân cây mới là thời điểm thích hợp để các thợ săn trổ tài.

Anh Lô Văn Hiếu ở xã Na Loi dẫn đầu một nhóm bốn người, tất cả đều đeo gùi trên lưng và mang theo dao phát rẫy. Anh Hiếu cho biết: "Lấy cây cu ly không khó, nhưng tìm vị trí cây cu ly sống mới kỳ công. Chúng tôi trèo đèo lội suối suốt cả ngày mà cũng chỉ lấy được trên 100kg cu ly mà thôi".

Cũng theo anh Hiếu, có ngày chỉ lấy được vài cây nhưng có ngày lại bắt gặp cả rừng cu ly, phải huy động tất cả anh em bạn bè lên núi gồng gánh cu ly về thị trấn Mường Xén để bán. Tuy nhiên, cái giá phải trả cho nghề "săn cu ly" cũng không phải là rẻ, đã có rất nhiều thợ săn bị ngã núi hoặc bị rắn độc cắn. Tuy nhiên, cho đến nay các địa phương chưa có bất cứ một thống kê chính xác nào về hệ luỵ của công việc này.

"Kim mao cẩu tích" sẽ hiếm dần

Theo ông Nguyễn Quốc Minh, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Kỳ Sơn: "Cu ly còn được gọi là kim mao cẩu tích,cây lông khỉ, cù liền, cù lần... là một trong những thảo dược quý. Tuy nhiên, chúng tôi không thể xử lý người khai thác cây cu ly vì một lý do rất đơn giản, cu ly là một loại lâm sản ngoài gỗ, không nằm trong danh mục quý hiếm cần bảo vệ".

< Cảnh ở một điểm thu mua cây lông cu li trên tỉnh lộ 520.

Cũng theo khảo sát của ông Minh, hiện ở huyện Kỳ Sơn (Nghệ An) gần như rất khó để tìm được cây cu ly. Tình trạng khai thác quá nhiều đã dẫn đến sự cạn kiệt loài cây này. Giá cu ly ở Kỳ Sơn luôn dao động từ 2.000 - 3.000đ/kg, mà có khi một cây cu ly lớn đã nặng vài kg. Vì thế, ở một huyện nghèo tốp đầu cả nước như Kỳ Sơn thì việc người dân kiếm được vài chục nghìn mỗi ngày không chỉ là niềm vui, mà còn là kỳ tích.

Theo ông Nguyễn Quốc Minh (Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm Kỳ Sơn): Cây cu ly mọc rễ từ gốc lan ra xung quanh, những người "săn cu ly" phải hì hụi đào xuống rồi cắt lấy phần lông của cu ly. Ngày cao điểm, lái buôn ở thị trấn Mường Xén thu được cả chục tấn cu ly. Thậm chí, ở Kỳ Sơn còn hình thành những đầu mối thu mua cu ly cực lớn từ bên Lào về Việt Nam.
Tuy nhiên, mặt trái của niềm vui và kỳ tích ấy chính là sự cạn kiệt của cu ly.

- Theo Kiến Thức, internet